"Không có vua" là truyện ngắn tham vọng nhất của Nguyễn Huy Thiệp, nhưng chưa bao giờ được hưởng một sự phân tích hữu hiệu. Có lẽ vì tham vọng của nó quá lớn, vượt hết tầm nhìn của mọi nhà diễn giải." 2 Đây là truyện ngắn tiêu biểu cho cách nhìn cuộc đời Không có vua: Có thể nói, đây là tác phẩm điển hình cho phong cách, cũng như giọng văn của Nguyễn Huy Thiệp. Truyện ngắn là câu chuyện xoay quanh những hỗn loạn, không có tôn ti trật tự trong gia đình lão Kiên, thợ sửa xe già. Thông qua "Không có vua", người đọc thấy được những điểm xấu xa được ẩn sâu đằng sau vẻ ngoài đạo đức giả. Sau đó, ông Nguyễn Huy Thiệp tiếp tục vang danh với các truyện Không có vua, Con gái thủy thần. Bộ ba truyện giả lịch sử Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, cũng gây chấn động một thời. Đối Link nghe: Nguồn: Thư Viện Sách Nói Dành Cho Người Mù (sachnoionline.com)Tác giả: Nguyễn Huy ThiệpNXB Văn Trẻ ấn hànhDiễn đọc: Trọng Thanh Trước khi trở thành "vua truyện ngắn", Nguyễn Huy Thiệp cũng từng làm thơ nhưng không thành. Ngồi nói chuyện văn thơ với nhà văn Nguyễn Huy Thiệp mới biết ông rất quý trọng cố nhà thơ Đồng Đức Bốn. Có thể tình bạn giữa hai ông vừa mang hơi thở mộc mạc bùn đất chốn chân quê vừa mang tính ngang tàng, bất cần của những văn tài một thời "bất đắc chí". PYqzGB. Gia cảnh Cô Sinh về làm dâu nhà lão Kiền đã mấy năm nay. Khi về, cô Sinh mang theo bốn bộ quần áo mỏng, một áo dạ mặc rét, hai áo len, một vỏ chăn hoa, bốn cái xoong nhôm một cái xoong bột, một cái phích hai lít rưỡi, một cái chậu tắm, một tá khăn bông, tóm lại là một đống tiền, nói như bà mẹ cô Sinh làm nghề buôn gạo ở chợ Xanh. Cậu Cấn chồng cô Sinh là thương binh. Họ quen biết nhau trong dịp tình cờ. Hai người cùng trú dưới hiên nhà trong một trận mưa. Chuyện này đã có người viết thế mới biết nhà văn ở ta xông xáo! Theo đồn đại, đại để đấy là một “xen” scène về tình yêu giản dị, trong sáng, không vụ lợi, cuộc sống là duy vật biện chứng, hài hòa, đẹp, đáng yêu, Cấn là con trưởng. Dưới Cấn có bốn em trai, chênh nhau một, hai tuổi. Đoài là công chức ngành giáo dục, Khiêm là nhân viên lò mổ thuộc Công ty thực phẩm, Khảm là sinh viên đại học, Tốn, con út bị bệnh thần kinh, người teo tóp, dị dạng. Nhà lão Kiền sáu người. Toàn đàn ông. Bà Nhớn, vợ lão Kiền, mất đã mười một năm, lúc đó lão Kiền năm mươi ba tuổi, cái tuổi oái ăm, lấy vợ nữa cùng dở, không lấy vợ nừa cũng dở. Lão Kiền chọn cái dở ít hơn, ở vậy… Nhà lão Kiền trông ra mặt đường. Lão làm nghề chữa xe đạp. Cấn làm nghề cắt tóc khi mới quen Sinh, anh nói làm nghề dịch vụ. Được tiếp thu một nền giáo dục gia đình bình dân cha dạy học, mẹ buôn gạo, Sinh không phải là người có nhiều định kiến hẹp hòi. Hơn nữa, trong tính cách, thậm chí ở cô có phần phóng túng. Trình độ văn hóa hạn chế Sinh tốt nghiệp phổ thông cơ sở nhưng điều đó không can hệ gì. Với phụ nữ, học vấn giữ vai trò thứ yếu tạo nên sức mạnh thần thánh ở họ, điều này không phải chứng minh. Về làm dâu, lúc đầu Sinh khá ngỡ ngàng với không khí tự do trong nhà. ăn cơm chẳng ai mời ai, sáu người đàn ông, ai cũng cởi trần, mặc quần đùi cười nói thản nhiên, chan chan húp húp như rồng cuốn. Sinh phục vụ cơm nước ba lần một ngày. Dược cái việc nặng Sinh không phải làm, có Tốn giúp đỡ. Tốn suốt ngày lau nhà, giặt giũ. Nó không có khả năng làm việc gì khác. Cứ cái xô nhựa với tấm giẻ lau, khoảng vài tiếng nó lại ìau nhà một lần. Nó không chịu được bẩn. Quần áo ai thay ra, nó cũng giặt mà giặt rất sạch, phơi phóng cẩn thận. Tốn ít nói, nếu ai hỏi gì, chỉ cười bẽn lẽn, trả lời nhát gừng. Vừa làm, nó vừa ti tỉ hát, không hiểu học được khi nào bài hát của bọn bợm rượu A ha… Không có vua Sớm đến chiều say sưa Tháng với ngày thoi đưa Tớ với mình dây dưu, Tình với tính hay chưa Tốn hay giúp đỡ Sinh, nó cư xử với Sinh bằng lòng tốt vô bờ bến. Những ý thích nhỏ nhặt của cô, nó thực hiện với lòng tận tụy cầm thú. Nửa đêm, nếu Sinh buột miệng “có ô mai thì thích” là sẽ có ngay ô mai. Không biết Tốn lấy tiền ở đâu, đi mua lúc nào, chuyện này chịu. Ở trong nhà Sinh hãi nhất lão Kiền, sau đến Khiêm. Lão Kiền suốt ngày cau có. Mọi người không ai thích lão. Lão kiếm ra tiền, lão cãi nhau với mọi người như cơm bữa, lời lẽ độc địa. Như với Đoài, lão bảo “Mày ấy à? Công chức gì mặt mày? Lười như hủi, chữ tác chữ tộ không biết, chỉ giỏi đục khoét!” Hay với Khảm, cậu sinh viên năm thứ hai “Đồ ruồi nhặng! Học với chả hành! Người ta dạy dỗ mày cũng phí cơm toi”. Với Cấn, lão có đỡ hơn, thỉnh thoảng cũng khen, nhưng lời khen lại quá lời chửi “Hay thật, cái nghề cạo râu ngoáy tai của mày, nhục thì nhục nhưng hái ra tiền!!l Riêng với Khiêm, lão ít gây sự. Khiêm to lớn, lừng lững, tính nóng nẩy. Hàng ngày đi làm vể Khiêm hay làm ca đêm, Khiêm đều mang về khi cân thịt, khi bộ lòng. ít hôm Khiêm về không. Đoài hay nói cũng là nói sau lưng Khiêm “Trước sau cũng vào tù thôi. Cái thằng ấy tôi đã thấy trước tương lai của nó. ít cũng sáu năm tù. Kể cũng lạ. Một năm nó ăn cắp đến nửa tấn thịt mà người ta để yên cho nó! ” Khiêm có vẻ khinh hải ông anh. Với Cấn, nếu Khiêm cắt tóc bao giờ Khiêm cũng trả tiền. Khiêm bảo “Anh đừng làm bộ với tôi. Tôi bắt anh phục vụ tôi có quyền trả tiền”. Cấn nhăn nhó “Chú làm anh như người ngoài ấy”. Khiêm bảo “Không phải người ngoài, anh không nhận thì thôi, tôi đi hàng khác, tôi bắt thằng khác ngoáy tai cho tôi… Kìa, cẩn thận con dao. Đừng cạo của tôi bộ ria mép dấy”. Cấn chẳng biết trả lời ra sao, phải nhận tiền. Sinh bảo chồng “Anh nhận tiền chú ấy khinh cho”. Cấn bảo Tôi là anh cả, nó khinh tôi thế nào dược”. Với Đoài, Khiêm coi như kẻ thù. Nhưng Đoài khôn, Khiêm không nói gì được. Khi đi làm, Đoài bao giờ cũng lấy cơm vào cặp lồng, cho vào mấy miếng thịt, mấy miếng lòng. Đoài bảo “Có chút đạm này là đủ hai nghìn calo để làm việc cả ngày đây Cũng là nhờ chú Khiêm nhà mình vừa khéo vừa nhanh”. Khiêm hỏi “Khéo với nhanh cái gì?” Đoài bảo “ấy là tôi nói chú khéo xử sự với người, mà nhanh xử sự với lợn”. Khiêm tức nghẹn họng, sùi bọt mép. Sinh lọt vào gia đình nhà này tựa như cơn mưa rơi xuống đất nẻ. Không khí dịu lại. Vài tháng đầu, lão Kiền không gây sự gì với con cái. Cấn là người hạnh phúc nhất. Anh cầm kéo cắt tanh tách, đối xử với khách hết sức nhã nhặn. Cấn quyết định nâng giá cắt tóc từ ba chục lên năm chục, ngoáy tai từ một chục lên hai chục, gội đầu từ hai chục lên ba chục, cạo râu từ một chục lên hai chục. Doanh thu tăng vọt. Mức chi tiêu gia đình chủ yếu do Cấn cầm cân nảy mực có phần rộng rãi. Đoài thấy mức chi tiêu tăng lên, ban đầu hoảng sợ nhưng không thấy ai hỏi han gì về khoản đóng góp thường lệ của mình nên bình tâm hơn. Còn Khiêm, vẫn y như tháng trước, tháng trước nữa, không chi ra một hào nhưng đều đặn góp vào mỗi hôm một cỗ lòng hoặc một hai cân thịt. ăn lòng lợn hơn chục hóm liền, Sinh phát sợ, bảo chồng “Mai chú Khiêm có mang lòng về thì tôi đưa ra chợ để đổi thứ khác đấy”. Cấn cười, mắt ve vuốt thân hình mềm mại của vợ, bảo rằng “Tùy ái khanh“. Buổi sáng Thường thường, ở nhà thì Khiêm là người hay dậy sớm nhất. Khiêm để đồng hồ báo thức một giờ sáng. Khi chuông reo, Khiêm dậy ngay, dánh răng súc miệng rồi dắt xe đi. Tốn ra khóa cửa. Đoài bị mất ngủ, càu nhàu “Thật là giờ làm việc của quân đạo tặc”. Ba giờ sáng, lão Kiền dậy, cắm bếp điện đun nước pha chè. Cái ổ cắm bếp điện bị hở, chữa nhiều lần nhưng cứ ít hôm lại có người bị điện giật đến thót, lão Kiền bị điện giật, bèn chửi “Cha chúng mày, chúng mày ám hại ông. Chúng mày mong ông chết, nhưng trời có mắt, ông còn sống lâu”. Đoài nằm trong giường nói vọng ra “ở đâu không biết, chứ ở nhà này thì lá vàng còn ở trên cây, lá xanh rụng xuống là chuyện thường tình”. Lão Kiền chửi “Mẹ cha mày, mày ăn nói với bố thế à? Tao không hiểu thế nào người ta lại cho mày làm việc ở Bộ giáo dục! ” Đoài cười “Họ xét lý lịch, họ thấy nhà mình truyền thống, ba đời trong sạch như gương”. Lão Kiền lẩm bẩm “Chứ không à? Chúng mày thì tao không biết, nhưng từ tao ngược lên, nhà này chưa có ai làm gì thất đức”. Đoài bảo ” Phải rồi. Một miếng vá xăm đáng một chục nhưng tương lên ba chục thì có đức đấy”. Lão Kiền bao “Mẹ cha mày, thế mày nâng bát cơm lên miệng hàng ngày mày có nghĩ không?” Khảm rên rỉ “Thôi thôi, anh Đoài ơi anh thương em với, hôm nay em phải thi vấn đáp môn triết học đây”. Đoài bảo “Triết học là thứ xa xỉ của bọn mọt sách. Chú có thấy cái chuỗi hạt nhựa đeo cổ của chị Sinh không. Nó là triết học đấy” Khảm không trả lời. Căn nhà lặng im được độ một tiếng đồng hồ thì lại nhộn nhịp. Đấy là bốn rưỡi sáng, Sinh dậy nấu cơm. Sinh dậy nấu cơm, lấy sáu bò rưỡi gạo. Cấn lúi húi nhặt rau. Khảm bảo “Đẹp đôi thật. Có việc gì để em làm giúp”. Sinh bảo “Chỗ mỡ lòng hôm qua đầy kiến, chú làm sao chắt được hết kiến thì làm”. Khảm bảo “ở nước mình, mật độ lòng lợn trên đầu người thì nhà mình là nhất. Em đã thử thống kê, một năm anh Khiêm mang về hai trăm sáu mươi bộ lòng”. Đoài bảo ” Em giai ơi, thằng ấy là phúc thiện tinh của nhà mình đấy. Nói không phải, cái nghề đồ tể của nó giá trị gấp mười lần cái bằng đại học của tao với mày”. Lão Kiền mở cửa hàng. Một bà cắp thúng xôi đi qua ngó vào “Mời bác xơi quà sáng”. Lão Kiền xua tay quầy quậy “Giời ơi, nhà làm ăn, mới sáng ra đàn bà con gái đã ám thế này thì làm ăn gì”. Bà bán xôi bảo “Chẳng bao giờ tôi bán được một hào xôi cho lão già này”. Cấn cầm dao mài soàn soạt vào miếng da bò, lẩm bẩm “Hôm nay cắt được chục cái đầu thì hay”. Cơm dọn ra, Sinh với Khảm ngồi hai đầu nồi. Khảm xới cơm, Sinh bảo “Cơm nóng, chú lèn thế thì ai ăn được?” Khảm bảo “Chị đừng lo. Họ Sĩ nhà này toàn miệng gang miệng thép”. Sinh bảo “Mời bố ăn cơm, mời anh Cấn và các chú ăn cơm”. Đoài bảo “Nhập gia tùy tục, ở nhà này không có lệ mời. Khảm xới tao một bát”. Khảm bảo “ăn nhanh thế, em mới được hai và”. Đoài bảo “Tao ăn cơm tập thể từ mười bốn tuổi, ăn nhanh quen rồi. Hồi học đại học, có thằng bạn ăn sáu bát cơm trong một phút rưỡi. Thế có kinh không?” Lão Kiền bảo “Quân trí thức bây giờ toàn phường phàm phu tục tử” Khảm cười “Các cụ ngày xưa chẳng dạy “Có thực mới vực được đạo” là gì?” Lão Kiền hỏi “Bọn chúng mày bây giờ thì vực đạo gì?” Đoài ăn xong đứng lên vươn vai ” Cái này phải tranh luận đấy. Tôi đang ngờ cái ông ngày xưa nói ra câu ấy chẳng hiểu quái gì về đạo. Đáng ra phải nói “Có thực mới vực được tình”. Tức là tình người đấy, đồng bào ạ”. Cấn cười tủm tỉm “Chú thì lắm tình lắm”. Đoài nhìn chăm chú vào khoảng lõm ở ngực chị dâu, nơi chiếc khuy bấm vừa tuột ra, bâng quơ “Tình ơi tình, mình ơi mình, tình hở hang lắm cho mình ngẩn ngơ”. Sinh đỏ mặt, một lát sau lén cài khuy áo. Sinh dọn mâm bát. Lão Kiền ngồi uống nước. Khảm mặc quần áo, quần bò, áo phông, trên áo có ghi dòng chữ “Walt Disney Productions”. Khảm bảo “Anh Cấn ơi, anh cho em năm chục”. Cấn bảo “Tiền đâu mà cho” Khảm bảo “Bố cho con năm chục”. Lão Kiền bảo “Mày ngồi vá cho tao cái xăm để góc kia kìa, rồi tao cho tiền”. Khảm nhăn nhó “Thế thì muộn giờ học còn gì”. Lão Kiền không trả lời, mở tủ dồ nghề lúi húi làm việc. Khảm dắt xe ra cửa, nghĩ thế nào lại dựng xe ôm cặp vào nhà. Khảm mở cửa buồng, trông trước trông sau không thấy ai, mở thùng gạo xúc ra bò rưỡi vào cặp rồi lẻn đi ra. Sinh cất nồi dưới bếp. Đoài đi theo, lấy cơm vào cặp lồng. Đoài đưa tay chạm vào lưng Sinh, Đoài bảo “Người chị tôi cứ mềm như bún”. Sinh lùi lại, hốt hoảng “Chết, chú Đoài, sao lại thế” Đoài bảo “Gớm, đùa một tý đã run bắn người”. Nói xong đi lên nhà. Tốn xách xô nước, cặm cụi lau sàn, ti tỉ hát “A ha… không có vua… ” Có người đến cắt tóc, Cấn hỏi “Bác cắt tóc kiểu gì?” Khách bảo “Chú cắt thấp cho tôi. Cẩn thận, tôi mọc cái đầu đanh gần chỗ đỉnh đầu”. Đoài mặc xong quần áo, dắt xe đi. Đoài đến cửa quay lại bảo Cấn “Ngày kia giỗ mẹ, anh Cấn bảo chú Khiêm mai kiếm cho được cân thịt ngon ngon. Em đưa chị Sinh một trăm rồi đấy!!. Cấn bảo “Nhớ rồi”. Ngày giỗ Giỗ bà Nhớn, lão Kiền làm năm mâm. Bên ngoại có ông Vỹ, em ruột bà Nhớn ở Phúc Yên về dự. Ông Vỹ là công chức về hưu, hưởng lương chuyên viên ba một trăm phần trăm. Ông Vỹ đông con, nhà nghèo, về mang theo mỗi chục quả tai chua với chai rượu trắng làm quà. Trên phố xuống có vợ chồng cô em gái lão Kiền, bà này bán hàng khô, chồng tên là Hiển, làm thợ thiếc. Ông Hiển có năm đứa con vừa trai vừa gái. Khách dự có anh Minh, trưởng phòng, cùng cơ quan với Đoài. Khảm dẫn về ba bạn học cùng lớp, một cô tên là My Lan, một cô tên là Mỹ Trinh. Cậu con trai tên là Việt Hùng, đeo kính trắng, có đôi môi đỏ như môi con gái. Khoảng mười giờ, khách đến đông dủ. Cấn bưng một mâm đặt trước bàn thờ, thắp ba nén hương rồi quay ra bảo “Bố vào cúng”. Lão Kiền mặc quần bảo hộ lao động, áo cộc tay trắng ba túi, đầu chải nước lã rất mượt, ra trước bàn thờ chắp tay, lầm rầm khấn “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm thứ… Lạy Trời, lạy Phật, lạy tổ, lạy tiên, lạy vợ tôi là Ngô Thị Nhớn. Mời tất cả chư vị về dự cơm nhạt với tôi. Tôi, Nguyễn Sĩ Kiền, sáu mươi tư tuổi, ngụ ở 129 phố… Các con trai là Cấn, Đoài, Khiêm, Khảm, Tốn. Con dâu là Sinh. Tất cả dều lòng thành, xin chư vị phù hộ độ trì, cho sức khỏe dồi dào, làm ăn tấn tới”. Cúng xong, lão Kiền quay ra bảo ông Vỹ “Cậu vào lạy chị cậu một cái”. Ông Vỹ mặc áo đại cán kiểu Tôn Trung Sơn, cài khuy đến cổ, trông rất trịnh trọng. Ông Vỹ bảo “Cán bộ chúng em vô thần. Bốn chục năm nay em theo cách mạng, nhà không có bàn thờ, chẳng biết khấn vái thế nào”. Lão Kiền im lặng, mắt đỏ hoe. Ông Vỹ đến trước bàn thờ, đứng nghiêm, gục đầu như mặc niệm. Lão Kiền lau mắt, bảo “Bây giờ thứ tự, người nào vào cúng thì cúng”. Bà Hiển bày lên bàn thờ năm trăm vàng, một xếp tiền âm phủ, một bộ quần áo giấy rồi quỳ thụp xuống, chống. tay, lạy ba lạy, đầu chạm sát dất. Ông Hiển đến trước bàn thờ vái ba vái. Cấn cũng vái ba vái. Cấn bảo ” Chú Đoài vào lễ đi”. Đoài đang chặt thịt gà, tay đầy mỡ, cứ để thế không rửa tay, chạy lại bàn thờ vái lia lịa. Đoài bảo “Lạy mẹ, mẹ phù hộ cho con đi học nước ngoài, kiếm cái xe Cub”. Ông Vỹ cười “Cháu đi nước nào?” Đoài bảo – Cái đấy còn phụ thuộc cái ông để ria mép mặc áo ca rô kia kìa”. Anh Minh nghe thấy bảo “Đi hay không sao lại phụ thuộc vào tôi?” Đoài bảo “Gì thì gì, anh là sếp trực tiếp, anh quay lưng lại thì em rồi đời”. Anh Minh bảo “Cậu cứ làm việc cho tốt. Tớ ủng hộ”. Đoài bảo “Công việc nhà nước biết thế nào là tốt xấu? Chỉ xin anh nhớ thằng Đoài lúc nào cũng tốt với anh”. Sinh lúi húi dưới bếp. Trong buồng Sinh, Khảm đang giới thiệu với ba người bạn tập anbum có chụp những ảnh củá Khảm, có cả ảnh hồi bé tập lẫy. Cô My Lan bảo “Anh Khảm hồi bé bụ ghê”. Khảm bảo “Con anh sau này cũng bụ thế, nhưng xinh hơn, có cái nốt ruồi ở cằm”. My Lan đỏ mặt, sờ vào cái nốt ruồi cằm mình, đấm thùm thụp vào lưng Khảm. Việt Hùng hỏi “ảnh này chụp hồi đi thực tập phải không?” Khảm bảo “ừ!”. Việt Hùng khen “Nét lắm”. My Lan hỏi “Có phải hồi ấy anh ăn trộm khoai, bị dân quân bắt không” Khảm đỏ mặt bảo “Toàn nói lăng nhăng, mắc tội nói xấu đồng đội. Thế nào tớ cũng bắt đền”. My Lan hỏi Bắt đền gì?” Khảm bảo “Đợi tối thì biết”. Mọi người cười. Đoài ngó vào, vẫy tay gọi Khảm. Đoài bảo “Dọn mâm”. Khảm hỏi “ăn rồi à?” Đoài không trả lời Khảm đi theo Đoài xuống bếp. Đoài hỏi ” Cô có cái nốt ruồi là người yêu mày đấy à?” Khảm bảo “Vâng”. Đoài hỏi “Thế cái vị anh hùng thơm nức kia là thế nào?” Khảm cười “Đấy là Mỹ Trinh, bố cô ấy là ông ánh sáng ban ngày, chủ hiệu điện”. Đoài hỏi “Thằng kia với nó thế nào?” Khảm bảo “Chưa có gì”. Đoài bảo “Tao chim nó đấy”. Khảm bê mâm, Sinh bảo “Thiếu cái gì thì gọi”. Đợi Khảm đi khuất, Đoài bảo “Thiếu một tý tình thôi, Sinh cho tôi xin một tý tình”. Sinh bảo “Nỡm. Lên nhà trên mà bảo hai cô bạn của chú Khảm ấy” Đoài bảo “Hai con ôn vật ấy bằng thế nào được Sinh”. Sinh bảo “Đi ra đi”. Đoài bảo “Cái lão Cấn của Sinh như con cua bấy mà lại hách dịch”. Sinh bảo “Tôi mách anh Cấn đấy”. Đoài bảo “Đây chẳng sợ”. Nói rồi xán lại, hôn chút lên má Sinh. Sinh đẩy ra, Đoài hổn hển “Tôi nói trước, thế nào tôi cũng ngủ được với Sinh một lần”. Nói xong đi ra, Sinh bật khóc. Cấn đi vào, thấy mắt vợ đỏ hoe, hỏi “Sao thế?” Sinh bảo “Tại cái bếp nhà mình khốn nạn quá”. Cấn bảo “Cô cho mấy ấm nước lên đi, trên nhà hết cả nước sôi”. Sinh bảo “Tôi có ba đầu sáu tay đâu?” Cấn trừng mắt “Nói năng thế à? Nhà này không có lệ thế! Mấy cái bát này sao chưa rửa?”. Nói rồi, xô chồng bát, đi ra. Chồng bát vỡ. Sinh khóc òa lên. ăn đợt đầu ba mâm. ăn xong khách ra về. Lại ăn đợt sau hai mâm. Lúc ấy cũng hơn hai giờ chiều. Đang ăn, Khiêm đi làm về, lầm lầm lì lì chẳng chào hỏi ai. Khảm bảo “Anh Khiêm ngồi cùng mâm với chúng em cho vui”. Hai cô My Lan, Mỹ Trinh cũng ríu rít mời. Cả mâm chống đũa chờ. Lão Kiền say rượu, nằm ngủ lơ mơ trên giường, nước dãi đọng trên chiếu. Đoài chào mọi người để đưa ông Vỹ ra bến ô tô cho kịp chuyến xe Phúc Yên buổi chiều. Khiêm hỏi “Thằng Tốn đâu?” Khảm bảo “Nó loanh quanh đâu đấy, anh ra ăn cơm, chúng em chờ”. Khiêm bảo “Cứ ăn đi”. Khảm bảo “Ta ăn thôi. Ông ấy khó tính bỏ mẹ”. Cô Mỹ Trinh bảo “Anh ấy trông như Tácdăng”. Khiêm xuống bếp hỏi Sinh “Thằng Tốn đâu?” Sinh bảo “Tôi bận bịu từ tờ mờ sáng cũng quên khuấy. Không biết chú ấy đâu?” Khiêm vứt vào chạn bát một bao tải nặng. Sinh hỏi “Lại lòng à?” Khiêm không trả lời, đi lên nhà, ngó vào buồng Sinh thấy Cấn đang ngáy khò khò. Khiêm xô cửa bước vào hỏi Cấn “Thằng Tốn đâu?” Cấn ngồi dậy hỏí “Mấy giờ rồi?” Khiêm hỏi “Thằng Tốn đâu? ” Cấn bảo Nhà có việc, để nó ra vào bất tiện. Tôi nhốt nó trong cái buồng ở cạnh nhà xí”. Khiêm cầm cái gạt tàn thuốc lá trên bàn ném vào mặt Cấn. Cấn kêu “ối” một tiếng rồi ngã lăn ra. Khiêm xô vào đạp túi bụi. Khảm chạy vào đẩy Khiêm ra. Sinh chạy lên hốt hoảng nói ” Sao lại thế” Khiêm gạt Sinh ra.. Căn phòng cạnh nhà xí trước là chuồng lợn, nay để than củi. Cánh cửa bằng gỗ thùng đóng ghép. Có ai mới làm thêm chiếc khóa bên ngoài, hôm qua chưa có. Khiêm giật khóa, không được. Khiêm cầm xà beng phá khóa. Cửa mở ra. Tốn chân tay mặt mũi đen nhẻm đang nhe răng cười. Khiêm quát “Đi ra”. Tốn lết đôi chân què đi lên nhà. Thấy nhà bẩn, nó xách ngay cái xô nước với tấm giẻ lau. Mấy người bạn của Khảm chào lí nhí rồi về, Khảm dắt xe ra theo. Trước khi đi, Khảm rút vội mấy điếu thuốc lá trên bàn cho vào túi áo. Lão Kiền tỉnh rượu, thấy nhà vắng tanh, hỏi “Chúng mày đâu cả?” Sinh lấy miến cho Tốn ăn. Tốn đói, ăn ba bốn bát liền, sợi miến lòng thòn vương ra đất. Khiêm dắt xe ra cửa, không ăn uống gì. Cấn ôm ngực ho sù sụ, nhổ ra một chiếc răng gãy, máu dây bên khóe mép. Cấn giơ nắm đấm trước mặt bố, bảo rằng “Ông liệu tống thằng ấy ra khỏi nhà này, không tôi giết nó”. Lão Kiền bảo ” Chúng mày cứ giết nhau đi, tao càng mừng”. Nói rồi cầm chiếc khóa hỏng trên tay, lẩm bẩm “Mất cả sáng lắp được chiếc khóa. Thế là toi trăm bạc”. Ngày Tết Thấm thoắt đến Tết. Rằm tháng Chạp, lão Kiền đi ngân hàng rút lãi tiết kiệm được tám nghìn đồng. Lão Kiền mua cho Tốn cái áo sơ mi, mua cho Sinh đôi bít tất, còn lại tiền đưa cả cho Cấn. Khảm bảo “Bố chỉ quý con dâu, con út”. Khiêm phải theo xe đi các tỉnh mua lợn, vắng nhà mấy ngày liền. Công việc chắc vất vả , hôm nào Khiêm cũng đi làm từ mười một giờ đêm đến trưa hôm sau mới về, người toàn mùi phân lợn. Về nhà vật ra ngủ liền, thế mà mắt cứ lõm sâu vào, vằn tia máu đỏ. Cấn cũng đông khách . Từ sáu giờ sáng đến mười giờ đêm lúc nào cũng có người chờ cắt tóc. Buổi trưa Cấn ngủ, Khảm ra cắt tóc thay anh. Hôm đầu chưa quen, Khảm cắt phải tai một ông khảch làm chảy máu. Ông này tức, tiền cắt tóc hết bảy mươi đồng chỉ trả có hai mươi đồng. Cấn lấy bút chì ghi tiền làm được hàng ngày vào một cuốn sổ, một trăm đồng thì ghi dấu cộng, hai trăm đồng dấu khuyên tròn, lại vẽ những hình tam giác trong chấm một cái chẳng biết là ký hiệu gì. Đoài bảo “Sổ sách kế toán của ông này thật như gián điệp” . Ngày 23 tháng Chạp ăn Tết ông Táo lên trời. Sinh nấu miến, mọi người ăn no căng bụng. Khảm hỏi “Sao gọi là ông Táo?” Đoài bảo “Chuyện thế này. Ông Táo là ba ông đầu rau. Ngày xưa có hai anh em cùng lấy một vợ. Người này một hôm ngủ với anh , một hôm ngủ với em . Khi họ chết, Ngọc Hoàng cảm động mối tình khăng khít của họ, biến mỗi người thành một ông đầu rau để lúc nào cũng gần gặn. Ta gọi là thần Bếp, hay ông Táo”. Sinh bưng mâm xuống bếp. Khảm bảo “Ngày xưa được phong thần dễ nhỉ?” Lão Kiền bảo “Đừng nghe nó”. Đoài bảo “Lại có chuyện thế này. Nhà kia có cô con dâu, bố chồng bóp vú cô ta . Đứa con trai hỏi ” Sao ông bóp vú vợ tôi?” Ông bố bảo “Để trừ nợ. Thế hồi xưa sao mày bóp vú vợ tao?”. Nghe nói những người này cũng được phong thần”. Cấn bảo “Chuyện của chú, tôi chẳng hiểu gì” . Lão Kiền bảo “Đừng nghe nó” . Ngày 27 , lão Kiền gói bánh chưng. Gói một yến rưỡi nếp, được hăm tám chiếc bánh. Bánh có hai loại, loại nhân đỗ, loại nhân đường, loại nhân đường đánh dấu bằng sợi lạt nhuộm phẩm đỏ. Sinh luộc bánh chưng. Đoài quanh quẩn ở bếp. Đoài hỏi “Sinh biết nhà này tương lai thuộc về ai không?” Sinh bảo “Không”. Đoài cười “Về tôi”. Sinh hỏi “Sao thế ?” Đoài bảo “Bố già bố chết. Thằng Khiêm trước sau cũng vào tù. Thằng Khảm ra trường không đi Tây Bắc thì cũng Tây Nguyên. Thằng Tốn không nói làm gì, vô tích sự”. Sinh hỏi “Thế còn anh Cấn?” Đoài bảo “Phụ thuộc vào Sinh. Nến Sinh yêu tôi, tôi sẽ gây sự tống cổ ra đường”. Sinh bảo “Dễ thế?” Đoài bảo “Sinh còn quyến luyến cái gì? Lão Cấn vừa ngu vừa hèn, lại yếu, bác sĩ bảo bị lãnh tinh, lấy Sinh hai năm mà có con cái gì đâu?” Sinh ngồi yên, nồi bánh chưng sôi sùng sục. Đoài bảo “Tối nay tôi vào buồng Sinh nhé! ” Sinh vớ con dao, nói khẽ “Cút đi. Anh đến gần đây là tôi giết đấy! ” Đoài cười nhạt, đi giật lùi, bỏ lên nhà, vừa đi vừa lẩm bẩm “Đàn bà là giống ác quỷ”. Hai chín Tết, lão Kiền đi chợ mua về một cành hoa đào. Đến chiều ba mươi, Khiêm mang về một chậu quất to ba tầng quả với bánh pháo cối dài sáu mét. Khảm bảo “Chơi sang quá đấy”. Đoài bảo “Nó cậy lắm tiền”. Khảm bảo “Hai anh em mình mang tiếng có học mà Tết nhất đến, một bộ quần áo hẳn hoi không có”. Đoài bảo “Chỉ có con đường lấy vợ giàu thôi. Tối nay mày đưa tao đến con ông ánh sáng ban ngày đấy nhé”. Khảm bảo “Được thôi. Nếu anh tán được thưởng em cái gì?” Đoài bảo “Thưởng cái đồng hồ”. Khảm bảo “Được rồi. Anh ghi cho em mấy chữ làm bằng”. Đoài hỏi “Không tin tao à?” Khảm bảo “Không”. Đoài ghi vào giấy “Ngủ được với Mỹ Trinh, thưởng một đồng hồ trị giá ba nghìn dồng. Lấy Mỹ Trinh, thưởng 5% của hồi môn. Ngày… tháng… năm… Nguyễn Sĩ Đoài”. Khảm cười cất mảnh giấy vào túi rồi nói “Cám ơn”. Khảm bảo “Hôm qua em nghe anh Khiêm kể chuyện, thế là đến tối gặp phải giấc mơ kinh quá”. Đoài hỏi ” Chuyện gì?” Khảm bảo “Anh Khiêm kể về công việc giết lợn. Hai tay cầm hai cực điện dí vào thái dương từng con. “éc” phát là chết. Bị mất điện, anh Khiêm phải dùng xà beng quật vào gáy lợn. Gặp con lợn khỏe, quật chục cái không chết, gáy toét cả ra, buồn ngủ quá, anh Khiêm quật cả vào chân. Một ca anh Khiêm giết được hơn nghìn con lợn, được khen thưởng”. Đoài hỏi “Thế giấc mơ gì?” Khảm bảo “Em mơ thấy đi giết lợn, giết mãi không chết, con lợn cứ nhe răng cười, thế là bị đuổi đi dọn cả một bể cứt. Bể cứt xây xi măng, kích thước 10x 6 x l, 5 mét, dung tích 90 khối. Mưa bão đến, bể cứt trôi phăng phăng, em ngập trong ấy, cứt vào cả mồm, cả lỗ tai”. Đoài bảo”Giấc mơ tốt đấy còn công việc để ý làm gì. Mà y chơi xổ số đi, thế nào cũng trúng. Các cụ bảo giẫm vào cứt là có lộc về. Mày chìm cả người trong bể cứt, có khi mày trúng xổ số độc đắc cũng nên”. Khảm bảo “ừ nhỉ. Anh không nói thì em không biết”. Nói rồi hớn hở chạy ra phố. Lúc giao thừa, ở nhà khi ấy chỉ có Khiêm, Tốn với Sinh. Ông bà Hiển cho con rể đi xe máy xuống mời lão Kiền với Cấn lên phố chơi từ chập tối, chắc uống rượu say chưa về được. Đoài với Khảm dẫn hai cô Mỹ Trinh và My Lan đi chùa Ngọc Sơn hái lộc. Khiêm bày lên bàn thờ con gà mái tơ Sinh luộc từ chiều, mỏ ngậm một bông hoa hồng. Lại mở hộp mứt, lấy rượu rót ra ba cốc, pha một ấm chè, bày cả lên đấy. Khiêm bảo ” Chị Sinh ra lễ”. Sinh thoa tí son, mặc quần côn, áo len dài bên trong, bên ngoài khoác áo len cộc đan kiểu gilê, không cài khuy, cổ choàng một chiếc voan mỏng màu hoàng yến, trông khác hẳn ngày thường vẫn mặc bộ đồ trong nhà. Sinh bảo “Chú lễ đi. Tôi đàn bà con gái biết khấn thế nào”. Khiêm bảo “Chị là bề trên, chị cứ vái ba vái trước còn đâu tôi khấn”. Sinh bảo ” Cũng được”. Nói rồi ra trước bàn thờ vái ba vái, đứng lẩm nhẩm một lúc, lại vái ba vái nữa, không phải là người không biết nghi thức. Khiêm bảo Tốn “Tao treo bánh pháo ở cửa, lúc nào tao khấn xong thì châm lửa đốt”. Nói rồi châm điếu thuốc đầu lọc cắm vào miệng Tốn. Khiêm bảo ” Cầm điếu thuốc dí thế này này”. Tốn gật đầu. Khiêm vái ba vái, nói ” Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Năm thứ…” Tốn đốt pháo. Cả ba nét mặt rạng rỡ. Trời đất giao hòa, lòng người cảm động. Khiêm bảo “Năm mới, chúc chị Sinh sức khỏe, may mắn. Mừng tuổi chị một nghìn, chị cầm lấy để cho có lộc”. Sinh rớm nước mắt “Cho tôi nhiều thế” Tôi cũng chúc chú mạnh khỏe, bằng năm bằng mười năm ngoái. Anh Cấn giữ hết cả tiền, tôi chẳng có gì mừng tuổi cho chú. Chị mừng tuổi Tốn một trăm. Đây là lộc của chú Khiêm”. Tốn cầm tiền giơ lên ánh đèn, hỏi “Tiền à?” Khiêm bảo “ừ” Tốn hỏi “Tiền là gì?” Khiêm bảo “Là vua”. Một giờ sáng lão Kiền với Cấn về. Một lúc sau, Đoài với Khảm cũng về. C ả nhà ngồi ăn uống đến ba giờ, chợp mắt được nửa tiếng, lại lục đục dậy làm cỗ, khấn vái qua loa, lại ăn uống. Đến tám giờ, lão Kiền bảo “Tao đi chúc Tết hàng xóm, vợ chồng thằng Cấn đi theo tao. Khiêm ơi, mày cho bố ít tiền để đi mừng tuổi”. Lão Kiền và vợ chồng Cấn đi chúc Tết. Lão Kiền mặc quần bảo hộ lao động, áo dạ len, đội mũ len trùm đầu. Cấn mặc bộ quần áo may kiểu quân phục cấp úy, bộ quần áo này mua trên chợ Giời, có một vết thủng ở ống tay áo do tàn thuốc rơi vào. Sinh mặc quần bò nhung, áo lông Đức. Khảm bảo “Chị Sinh trông như Hoàng hậu”. Nhà hàng xóm sang chúc Tết, Đoài ra tiếp. Chúc mừng xong xuôi ngồi uống nước nói chuyện phiếm. Đoài bảo “Xin lỗi bác, cháu chẳng biết nhà bác có bao nhiêu người, tên là gì? ” Ông hàng xóm cười “Thì tôi cũng thế”. Đoài bảo “Ngày xưa bọn ăn trộm có luật chia ra bốn loại mà chúng không lấy một là nhà hàng xóm, hai là nhà bạn bè, ba là nhà đang có chuyện buồn, bốn là nhà đang có chuyện vui. Cứ thế này, cháu đi ăn trộm, lơ mơ phạm luật”. Ông hàng xóm cười “Thì các con tôi cũng thế”. Uống nước xong, mọi người ra về. Đứa con ông hàng xóm bảo ” Cái tay Đoài có học mà ăn nói linh tinh”. Ông hàng xóm bảo “Loạn”. Ba ngày Tết trôi qua, lòng đường đầy xác pháo. Ai cũng có cảm giác ngày Tết trôi nhanh! Ngày nào mà chẳng trôi nhanh, hở giời? Buổi tối Cuối tháng ba, Sinh tắt kinh, thèm ăn của chua, thỉnh thoảng lại nôn oẹ, người cứng đơ, triệu chứng có thai. Tháng năm xảy ra việc lão Kiền ốm, đầu tiên tưởng nhẹ, ai ngờ cứ nặng dần. Đầu tiên lão Kiền chỉ hoa mắt, nhìn một hóa hai, cửa không đi cứ đâm sầm vào tường. Cả nhà lo sợ, đưa đi bệnh viện Tây y. Bác sĩ chẩn đoán rối loạn chức năng thần kinh, cho uống B6. Bác sĩ bảo “Đây này, dây thần kinh thế này, hai dây chập vào nhau, thế là trông một thành hai, trông gà hóa cuốc”. Cấn hỏi “Thưa bác sĩ, vậy làm thế nào?” Bác sĩ bảo “Y học đang nghiên cứu”. Nằm một tuần, mắt lão Kiền mờ đi. Đoài bảo “Tôi ngờ đoán nhầm bệnh” Đoài sang nhờ người quen ở bệnh viện Đông y. Người này bảo “Tây y ra quái gì. Chú về đưa ông cụ đến đây”. Đoài về, xin cho lão Kiền chuyển viện. Bác sĩ bảo “Đi là không trở lại đâu nhé”. Lão Kiền điều trị Đông y, không khỏi, người rạc đi, đầu đau nhức. Dến tháng mười phát hiện tháy có u não. Bác sĩ bảo “Để thì chết, mổ may ra cứu được”. Cấn về họp gia đình, Cấn bảo “Làm thế nào? Từ khi bố ốm nhà mình tiêu nhiều tiền lắm”. Cấn giở quyển sổ kế toán ra đọc “Chú Khiêm đưa một lần một nghìn, một lần tám nghìn, một lần năm nghìn. Chú Đoài đưa một lần một trăm, một lần sáu chục, một lần một nghìn mốt. Chú Khảm đưa một lần ba trăm nhưng hôm tôi đưa một nghìn đi lấy thuốc ông lang Toại, chú Khảm mua hết có năm trăm, còn năm trăm vẫn cầm. Tiền thức ăn thế này… thế này… Ai chi gì tôi ghi cả”. Đoài bảo “Tôi nghĩ bố già rồi, mổ cũng thế, cứ để chết là hơn”. Tốn khóc hu hu. Cấn hỏi “ý chú Khảm thế nào?” Khảm bảo “Các anh thế nào thì em thế”. Cấn hỏi “Chú Khiêm sao im thế?” Khiêm hỏi “Anh định thế nào?” Cấn bảo “Tôi đang nghĩ”. Đoài bảo “Mất thì giờ bỏ mẹ. Ai đồng ý bố chết giơ tay, tôi biểu quyết nhé”. Hôm lão Kiền mổ não, trừ Sinh với Tốn, mấy anh em đều kéo nhau lên bệnh viện. Ca mổ kéo dàì bốn mươi hai phút. Ngồi ngoài phòng chờ, Đoài bảo Khảm “Ông cụ không viết di chúc mới gay, sau này tài sản biết chia thế nào?” Khảm bảo “Lão Cấn tham lắm, anh em mình rồi ra đường thôi”. Đoài bảo “Sang năm tao cưới Mỹ Trinh, ông ánh sáng ban ngày hứa cho một cây. Mày bảo một cây mua nổi nhà không?” Khảm bảo “Vào tay em, em nhân nó lên vài cây ngay”. Đoài bảo “Có năng khiếu kinh doanh thích thật, còn các năng khiếu như văn chương, nghệ thuật, v. v… đều vô dụng cả”. Cấn vào gặp bác sĩ. Một lúc sau đi ra lắc đầu “Bác sĩ bảo khoảng một tháng nữa thì đưa bố về”. Hôm đưa lão Kiền về, lão Kiền đầu quấn băng, hỏi gì cũng không nói, mắt lờ đờ. Vào trong nhà, Sinh tháo gỡ băng ra. Đầu lão Kiền trọc lốc, nổi lện một khối u to như. quả trứng gà. Nửa tháng sau, khối u này to bằng nửa quả bưởi, lấy ngón tay ấn vào thấy như có chứa bã dậu ở trong, ấn mạnh thì lõm sâu, ấn nhẹ thì lõm ít. Sinh phục vụ, săn sóc, rất khổ sở. Khảm hỏi Đoài “Bệnh này có lây không?” Đoài bảo”Có kiêng có lành. Tao khuyên mày cẩn thận. Vợ chồng lão Cấn còn có tiền. Thằng Khiêm còn có tiền. Tao với mày lở bệnh, tiền đâu mà chữa?” ít lâu sau, lão Kiền mê sảng, cứ rên rỉ “Cho tôi chết đi, đau đớn lắm”. Không khí trong nhà u ám, ai cũng buồn rầu. Đến ngay Tốn cũng bỏ lau nhà, suốt ngày ngồi thu lu trong cái buồng vẫn để than củi cạnh nhà xí. Bà Hiển trên phố xuống, thấy anh mình vật vã đau đớn, khóc “Anh ơi, tiền oan nghiệp chướng gì mà anh chết khổ, chết sở thế này”. Bà Hiển bảo “Chúng mày xem thế nào chứ? Để thế này à?” Cấn bảo “Cô bảo làm thế nào nữa?” Bà Hiển bảo. “Cô có người bạn, bà ấy có bài kinh Vô thường, bây giờ xin chép về đọc, may ra ông ấy sẽ đi yên ổn”. Đoài bảo “Lại thế nữa”. Bà Hiển bắt Khiêm đèo lên phố, đến nhà bà bạn để chép kinh Vô thường. Khiêm mang về bảo Đoài “Anh giỏi chữ, anh đọc đi”. Đoài cầm tờ giấy, xoay ngang xoay dọc rồi lắc đầu “Chữ nghĩa chú viết thế này thì tôi xin chịu, thật quá sổ sách kế toán ông Cấn”. Khiêm vào đọc kinh. Lúc ấy là chập tối. Bà Hiển thắp hương ngồi cạnh. Lão Kiền lúc đầu vật vã, rồi nằm yên. Mười một giờ đêm, mọi người đi ngủ. Khiêm vẫn ngồi đọc. Đọc đi rồi lại đọc lại. Đại ý bài kinh xin đức Phật giải tội cho người sắp chết, để nghiệp chướng cho người sống chịu, lời lẽ khó hiểu. Suốt đêm Khiêm ngồi đọc, lạc cả giọng. Đến bốn giờ sáng hôm sau, lão Kiền tắt thở, trên môi thấp thoáng nụ cười, trông rất hiền lành, trung hậu. Khiêm vuốt mắt bố rồi vào gọi Cấn. Cả nhà dậy. Đoài bảo “Ông cụ đi rồi. Thật may quá. Bây giờ tôi đi mua quan tài”. Ngày thường Sau hôm giỗ lão Kiền một trăm ngày, Sinh đẻ con gái. Đón Sinh về, mọi người làm tiệc mừng. Cấn với Khảm đi chợ. Khiêm nấu nướng. Đoài với Tốn dọn nhà. Hai cô My Lan và Mỹ Trinh đến dự, mua cả hoa. Vào tiệc, mọi người để Sinh ngồi giữa, hai cô My Lan và Mỹ Trinh ngồi hai bên. Sinh đẹp lộng ìẫy Đoài rót rượu ra cốc, đứng lên nói “Cốc rượu này tôi dâng cuộc sống. Rượu vừa ngọt vừa cay. Ai chấp nhận cuộc snng thì cầm lên cho. Cuộc sống dù khỉ gió nhưng đẹp tuyệt vời. Vì đứa trẻ mới sinh ra kia, vì tương lai của nó”. Mọi người nâng cốc, Đoài bảo “Khoan đã. Nhưng nó tên gì nhỉ?” Mọi người cười. Cùng uống rượu vui, Khiêm bảo “Chị Sinh ơi về làm dâu họ Sĩ nhà này chị có khổ không?” Khảm bảo “Chị phải nói thế nào cho hai cô My Lan, Mỹ Trinh khỏi sợ”. Sinh cười “Cứ thế này thì không thấy khổ”. Cấn hỏi “Thế ngày thường thì thấy khổ à?” Sinh bảo “Khổ chứ. Nhục lắm. Vừa đau đớn, vừa chua xót. Nhưng thương lắm”. Tốn mỉm cười ngô nghê nhắc lại “Thương lắm!” Người đưa thư qua cửa ngó vào “Nhà 129 phải không? Có điện đấy”. Cấn ra nhận điện, bảo “Cậu Vỹ ở Phúc Yên mất lúc tám giờ sáng hôm qua”. Đoài bảo “Cứ gác lại đã. Các bác già chết đi có gì là lạ? Tiếp tục cuộc vui đi. Nào, xin mời chư tướng!” Có sự nghiệp văn chương đồ sộ, được xem là “của hiếm”, là “hiện tượng độc đáo” thậm chí đến mức gây tranh cãi với các thể loại sáng tác gồm truyện ngắn, kịch, tiểu luận, phê bình văn học, song nhà văn Nguyễn Huy Thiệp thành công nhất là truyện ngắn… Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp 1950 – 2021 Ngày nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã rời cõi tạm sau thời gian dài chiến đấu với bệnh tật, để lại khoảng trống lớn cho văn đàn Việt Nam. Văn học đương đại Việt Nam hơn ba chục năm qua, không thể không nói tới nhà văn Nguyễn Huy Thiệp với hàng loạt truyện ngắn đưa tên tuổi ông lên hàng các tác gia kiệt xuất của văn chương Việt Nam cuối thế kỷ XX. Trong đó, các truyện “Tướng về hưu”, “Không có vua”… được coi là dấu mốc mở đầu cho thời kỳ văn học đổi mới. Nguyễn Huy Thiệp – người tạo ra bước ngoặt trong văn chương Việt Nam sau 1975 Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày tại huyện Thanh Trì, Hà Nội. Thuở nhỏ, ông cùng gia đình lưu lạc khắp nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, từ Thái Nguyên qua Phú Thọ, Vĩnh Yên… Vì thế, nông thôn và những người lao động để lại nhiều dấu ấn khá đậm nét trong những sáng tác của ông. Năm 1970, Nguyễn Huy Thiệp tốt nghiệp khoa sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trước khi trở thành người viết chuyên nghiệp, ông đã có nhiều năm là một thày giáo ở miền núi. Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Huy Thiệp bắt đầu khá muộn với các truyện ngắn đăng trên báo Văn Nghệ. Tuy nhiên chỉ một vài năm sau đó, cả làng văn học trong lẫn ngoài nước xôn xao những cuộc tranh luận về các tác phẩm của ông. Với hơn 50 truyện ngắn, 10 vở kịch, 4 tiểu thuyết cùng nhiều tiểu luận, phê bình văn học gây chú ý, Nguyễn Huy Thiệp được xem là một “hiện tượng hiếm” của văn đàn Việt Nam. Các thể loại của ông đa dạng từ truyện ngắn, tiểu thuyết đến cả kịch mang hơi hướng huyền thoại, cổ tích và những góc nhìn táo bạo và đa chiều về làng quê, người lao động. Tên tuổi của ông gắn liền với các truyện ngắn như “Tướng về hưu”, “Muối của rừng”, “Không có vua”, “Con gái thủy thần”, “Những người thợ xẻ”, “Thương nhớ đồng quê”, “Sang sông”… và bộ ba truyện ngắn lịch sử gồm “Kiếm sắc”, “Vàng lửa”, “Phẩm tiết”… Ba cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã được xuất bản gồm “Tiểu long nữ”, “Gạ tình lấy điểm”, “Tuổi 20 yêu dấu”. Các tác phẩm “Tướng về hưu”, “Thương nhớ đồng quê” của ông đã được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh và cũng đã gây tiếng vang… Truyện ngắn của ông cũng được dịch sang nhiều ngôn ngữ như Pháp, Anh, Italy, Thụy Điển, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản, Indonesia… Năm 2007, 2008, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp liên tục nhận Huân chương Văn học Nghệ thuật của Pháp và giải thưởng Premio Nonino của Italy. Năm 2015, ông hoàn thành tiểu thuyết “Vong bướm” và quyết định dừng nghiệp sáng tác ở tuổi 65. Nguyễn Huy Thiệp cũng là một trong 50 tác giả có các tác phẩm, cụm tác phẩm xuất sắc được đề nghị xét tặng Giải thưởng Nhà nước trong lĩnh vực Văn học nghệ thuật 2021. Hai tác phẩm được đề nghị xét giải của ông là truyện ngắn “Tướng về hưu” và “Những ngọn gió Hua Tát”. Sinh thời, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp khiêm tốn tự nhận ông “là một dạng ăn may, may mắn gặp thời” nhưng ông rất xác tín về “phẩm chất của một nhà văn”. Tác giả “Tướng về hưu” dẫn lại “lời của các cụ ngày xưa” mà ông tâm ý chính là lời nói của nhà bác học Lê Quý Đôn 1726-1784 “Văn học không phải trò chơi, là câu chuyện phiếm. Muốn văn hay phải hiểu biết và từng trải nhiều. Văn chương chữ nghĩa không phải là lời nói suông. Trong bụng không có ba vạn quyển sách, trong mắt không có núi sông kỳ lạ của thiên hạ thì không thể làm văn được”. Đánh giá về vai trò của Nguyễn Huy Thiệp trong văn chương Việt Nam từ 1975-1991, nhà phê bình La Khắc Hòa nhận định “Nguyễn Minh Châu mở đường đổi mới văn học Việt Nam sau 1975 với truyện ngắn Bức tranh. Còn Nguyễn Huy Thiệp là người đầu tiên tạo ra bước ngoặt quan trọng của đổi mới”. Nhiều nhà nghiên cứu văn học đã nhận định rằng, một mình Nguyễn Huy Thiệp không làm nên được diện mạo của nền văn học Việt Nam sau 1975 đến nay, nhưng một mình ông lại có thể đào xới lên nhiều vấn đề thuộc về bản chất văn học, tạo nên sức bật khỏi ảnh hưởng văn học trước 1975, từ đó đưa văn học Việt Nam sau 1975 đi xa hơn, vững vàng hơn trên hành trình đổi mới văn học dân tộc, hòa nhập vào biển cả văn học hiện đại của thế giới. Thấm đượm trên ngòi bút sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp là tư tưởng triết học tự nhiên, một thứ triết học nguyên sơ, bắt nguồn từ tín ngưỡng phồn thực sâu xa của nền văn hóa cổ Đông Nam Á. Những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp một mặt là sự tiếp nối, bảo lưu nguồn mạch văn học dân gian, mặt khác lại tiếp thu tính hiện đại, đánh dấu bước ngoặt của văn học Việt Nam thời đổi mới, khai phá những chủ đề như cái phi lý, sự cô đơn, tha hóa của xã hội… hòa vào dòng chảy của chủ nghĩa hiện đại trong văn học thế giới thế kỷ XX. Bằng ngòi bút đầy bản lĩnh và tài năng sáng tạo, Nguyễn Huy Thiệp đã làm một cuộc cách mạng trong tư duy nghệ thuật so với truyền thống. Những tác phẩm của ông mang lại cho độc giả một cảm giác vừa thân quen, vừa lạ lẫm, vừa truyền thống, vừa hiện đại. Nét cá tính và phóng khoáng, không bị gò bó bởi khuôn mẫu đã khiến cho văn chương của ông có sức hút một cách kỳ lạ khó có thể diễn tả. Nguyễn Huy Thiệp – “ông vua truyện ngắn” Có sự nghiệp văn chương đồ sộ, được xem là “của hiếm”, là “hiện tượng độc đáo” thậm chí đến mức gây tranh cãi với các thể loại sáng tác gồm truyện ngắn, kịch, tiểu luận, phê bình văn học, song nhà văn Nguyễn Huy Thiệp thành công nhất là truyện ngắn. Trong các tác phẩm nổi tiếng của ông, nổi bật nhất với “Tướng về hưu” phổ biến lần đầu vào tháng 6-1987 trên Báo Văn nghệ – lúc bấy giờ Nguyễn Huy Thiệp còn là nhân viên Công ty Sách – thiết bị trường học thuộc Bộ Giáo dục và “chưa có tên tuổi gì ở trên văn đàn” như ông tự nhận. Với tác phẩm “Tướng về hưu”, điều độc đáo mà bao nhà nghiên cứu phê bình văn học, giới mộ điệu văn chương và công chúng thưởng thức từng bình phẩm, tranh luận suốt hơn 30 năm qua đó chính là câu chuyện, dòng văn độc đáo, khó ai bắt chước trên một cốt truyện lẫn nhân vật bình thường. Thật vậy, những câu đơn với giọng kể chắt lọc, súc tích của ông đi sâu vào tâm trí người đọc dẫu cho nó có chua chát hay nhẹ nhàng. Hiện thực cuộc sống, số phận con người trong xã hội sau chiến tranh từ đó được phản ánh rất mạnh mẽ bằng thủ pháp văn chương rất riêng của Nguyễn Huy Thiệp. Không có cái gì là đơn giản, một chiều trong thế giới nhân vật trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp. Nhà nghiên cứu và phê bình văn học Vương Trí Nhàn nhận định “Nếu có một thứ “quả bóng vàng” hay là “cây bút vàng” dành để tặng cho các cây bút xuất sắc hằng năm, thì trong năm 1987 – và cả nửa đầu năm 1988 – người xứng đáng được giải trong văn xuôi ta, có lẽ là Nguyễn Huy Thiệp. Nhắc tới anh, người ta nhớ “Tướng về hưu” gây xôn xao một dạo, bởi cách viết rạch ròi, trần trụi; nhớ Muối của rừng tưởng như không đâu, hóa ra lại đượm nhiều ngụ ý âm thầm; nhớ “Một thoáng Xuân Hương” lịch duyệt mang đậm phong vị kẻ sĩ Bắc Hà; nhớ “Con gái thuỷ thần” lẫn lộn hư thực, và liều lĩnh đến tùy tiện”. Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ những người nghèo khổ, hay những người mang hình dạng kì dị… tuy mang dáng dấp cổ tích, nhưng lại chất chứa những cảm giác thời hiện đại. Họ luôn luôn dấn thân trên con đường đi tìm hạnh phúc, đi tìm cái Chân, Thiện, Mỹ tuyệt đối, để rồi nhận được những bài học cay đắng, xót xa. Với tuyên ngôn “Tôi căm ghét sâu sắc những kết thúc có hậu”, những truyện ngắn “giả cổ tích”, “giả truyền kỳ” của Nguyễn Huy Thiệp hầu hết đều kết thúc không có hậu. Nó mở ra những dự cảm, những cảm xúc tái tê đằng sau khối cô văn lạnh lùng của một cây bút tỉnh táo, sắc nhạy, khiến cho người đọc cứ thế ngấm dần, ngấm dần và xoáy theo luồng xúc cảm cùng những nhân vật. Với giọng văn “lạnh”, tác giả đã thể hiện một thái độ dửng dưng tuyệt đối đối với nội dung tư tưởng được thể hiện trong tác phẩm. Qua giọng văn ấy, thế giới nhân vật, nội dung câu chuyện luôn hiện ra một chất trung thực, khách quan trước mắt người đọc. Người đọc được tách biệt hoàn toàn so với thiên kiến của tác giả. Độc giả được tự do phán xét nhân vật theo chủ kiến của mình. Trong nhiều truyện ngắn “Không có vua”, “Những bài học nông thôn”, “Tướng về hưu”… tác giả cũng nhập vào vai người kể chuyện nhân vật xưng “tôi” nhưng vẫn cố ý tách ra khỏi câu chuyện để đảm bảo tính khách quan. Để tạo ra được giọng văn “lạnh”, Nguyễn Huy Thiệp dùng nhiều câu trần thuật ngắn gọn, súc tích, mang đậm tính liệt kê. Nguyễn Huy Thiệp rất chuộng dùng câu đơn. Đối với loại câu đơn có xuất hiện thành phần phụ thì thành phần phụ thường được tách ra bằng dấu phẩy. Riêng câu ghép, các vế cũng được tách ra rạch ròi. Điển hình “Cha tôi tên Thuấn, con trưởng họ Nguyễn. Trong làng, họ Nguyễn là họ lớn, số lượng trai đinh có lẽ chỉ thua họ Vũ. Ông nội tôi trước kia học Nho, sau về dạy học. Ông nội tôi có hai vợ. Bà cả sinh được cha tôi ít ngày thì mất, vì vậy ông nội tôi phải tục huyền. Bà hai làm nghề nhuộm vải…” “Tướng về hưu”; hay “Cấn là con trưởng. Dưới Cấn có bốn em trai, chênh nhau một, hai tuổi. Đoài là công chức ngành giáo dục, Khiêm là nhân viên lò mổ thuộc Công ty thực phẩm, Khảm là sinh viên đại học. Tốn, con út, bị bệnh thần kinh, người teo tóp, dị dạng. Nhà lão Kiền sáu người. Toàn đàn ông” “Không có vua”… Những câu văn sắc lạnh dửng dưng như thế có mặt khắp các trang văn của Nguyễn Huy Thiệp. Nó tạo cho tác giả một nét riêng độc đáo về phong cách. Có thể thấy, hầu hết những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đều chứa đựng một hoặc vài lời triết lý của ông về văn chương. Điều đó chứng tỏ, Nguyễn Huy Thiệp là người hay trăn trở về văn chương và ý nghĩa của nó. Những triết lý đó, được phát biểu gián tiếp qua các nhân vật, qua tình huống truyện hoặc đôi khi phát biểu một cách trực tiếp. Trước đây, Nam Cao cũng thường thể hiện những quan niệm của mình trên trang viết của mình. Nhưng với Nguyễn Huy Thiệp, văn chương không đơn giản và rành mạch như Nam Cao. Cái nhìn của ông về văn chương có gì đó rất phức tạp – phức tạp như chính cuộc đời, khi thì “văn chương là thứ bỉ ổi nhất” “Chút thoáng Xuân Hương”, khi thì “văn chương có cái gì từa tựa lẽ phải” “Giọt máu”, khi thì “văn chương có nhiều thứ lắm. Có thứ văn chương hành nghề kiếm sống, có thứ văn chương sửa mình, có thứ văn chương trốn đời, trốn việc. Lại có thứ văn chương làm loạn” “Giọt máu”. Những triết lý đó đã phá vỡ cái khuôn mẫu, từ đó chính ông đã dùng ngòi bút và con mắt tinh tường của mình khiến huyền thoại hóa giải huyền thoại, dùng cổ tích để hóa giải cổ tích. Tinh thần “tự phê”, “tự nghiệm”, ý thức phản tỉnh và tra vấn đã làm nên sức mạnh và giá trị của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Cái tâm của nhà văn, không gì khác hơn, chính là sự thức nhận về sứ mệnh “khơi gợi chân lý”, tra vấn nhân tâm của người nghệ sĩ. Đồng thời, tinh thần nghệ thuật hiện đại cũng không cho phép một sự ban phát chân lý cuối cùng, một tư thế độc thoại giữa nhà văn và bạn đọc. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mang màu sắc dân chủ và hiện đại bởi đó là những tác phẩm “mở”, ở đó, cả người viết và người đọc đều được đẩy vào một cuộc đối thoại lớn và nhà văn “để ngỏ cuộc đối thoại đó mà không đánh dấu chấm hết”. Sự ra đi của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã để lại một khoảng trống rất lớn đối với văn đàn Việt Nam. Đối với nhà văn Nguyễn Văn Thọ “Nguyễn Huy Thiệp mất, tôi mất đi một bạn văn lớn – người chia sẻ với tôi rất nhiều về bút pháp, về vị trí và vai trò của nhà văn trong xã hội. Đồng thời, sự ra đi của anh, tạo ra một lỗ thủng đối với văn đàn Việt Nam”. Còn theo nhà phê bình Văn Giá “trước Nguyễn Huy Thiệp, văn học Việt Nam khác. Từ Nguyễn Huy Thiệp trở đi, văn học Việt Nam khác. Ông đã cắm một dấu mốc rất ghê gớm và quan trọng vào đời sống văn học Việt Nam. Trong đổi mới, có những đổi mới từ từ, từ người này đến người kia. Nhưng Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện năm 1987, đã gây nên một dấu ấn đậm nét. Ông tạo ra một cảm quan, cái nhìn mới về đời sống, dẫn đến một hướng viết mới, một ngôn ngữ mới, một cách biểu đạt mới trong văn xuôi Việt Nam hiện đại. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có sứ mệnh đổi mới văn học; và ông đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình”. Nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng rất đau buồn khi nền văn học nước nhà mất đi một cây đại thụ. Theo ông “thời kỳ 1985-1996, ở mảng truyện ngắn, không ai viết hay hơn Nguyễn Huy Thiệp. Giọng văn của ông có chất riêng, ngắn gọn, sắc nét, không dông dài. Điều mừng là cuối đời ông có tên trong danh sách xét tặng giải thưởng Nhà nước. Đó là ghi nhận xứng đáng cho tài năng của ông”. DIỆP NINH/ TTXVN Xem thêm Nhà thơ Nguyễn Duy “Tôi viết bằng cái tình, cái hồn của dân” Loài người có bớt ngạo mạn? Khi thơ là “phong cách của tư tưởng” Truyện ngắn Phạm Hữu Hoàng Trăng lạnh Thơ 1-2-3 Nguyễn Đinh Văn Hiếu Lửa ngoài trời mà đốt cháy tâm can Phân tích truyện ngắn “Không có vua”_Nguyễn Huy Thiệp Dàn ý Tóm tắt truyện Đề tài, chủ đề Ý nghĩa nhan đề Tư tưởng của truyện Cảm hứng truyện Những giá trị thẩm mĩ Bài làm chi tiết Tóm tắt truyện ngắn Không có vua” Lão Kiền làm nghề chữa xe đạp, vợ lão đã mất mười một năm trước nhưng lão vẫn ở vậy. Nhà lão Kiền có năm người con trai Cấn là con trưởng, làm nghề cắt tóc. Dưới Cấn là Đoài – công chức ngành giáo dục, Khiêm – nhân viên lò mổ, Khảm – sinh viên đại học và Tốn – người em út bị bệnh thần kinh, người teo tóp, dị dạng. Sinh là vợ của Cấn, về làm dâu nhà lão Kiền đã được mấy năm. Gia đình lão Kiền là một gia đình không có tôn ti trật tự, ăn cơm không ai mời ai, cha con, anh em thường xuyên cãi cọ, chửi bới, châm biếm nhau, thậm chí còn có những hành động bạo lực. Dường như chỉ có Tốn là đáng yêu nhất, nó rất chăm chỉ làm việc nhà và hay giúp đỡ Sinh, cư xử với Sinh bằng lòng tốt vô bờ bến. Ngày giỗ bà Nhớn vợ lão Kiền, sau khi cúng xong, lão Kiền bảo ông Vỹ - em trai bà Nhớn ra lạy chị nhưng ông ta đi theo Cách mạng, mấy chục năm nay không thờ cúng gì nên chẳng biết khấn vái thế nào. Đoài thì đang chặt thịt gà trong bếp, hai tay đầy mỡ cũng ra vái lạy, xin mẹ phù hộ về đường công danh. Khảm thì ngồi với mấy người bạn học tán tỉnh nhau. Trong lúc dọn mâm, nhân lúc vắng người, Đoài buông những lời cợt nhả, chòng ghẹo Sinh, khiến Sinh bật khóc. Cấn thấy căn bếp lộn xộn, bát đũa chưa rửa liền mắng Sinh và xô đổ chồng bát. Buổi chiều, khi mọi người đang ăn thì Khiêm đi làm về, không thấy thằng Tốn đâu. Hóa ra vì nhà có việc nên Cấn đã nhốt thằng Tốn vào trong cái buồng cạnh nhà xí vốn trước là chuồng lợn nay để than củi. Biết chuyện, Khiêm tức giận ném cái gạt tàn thuốc lá vào mặt Cấn và xô vào đạp túi bụi khiến Cấn bị gẫy răng, máu bê bết. Khiêm dùng xẻng phá khóa mở của cho Tốn, thằng Tốn thấy nhà bẩn lại lập tức đi lau nhà, lão Kiền thì chỉ thấy tiếc cái khóa hỏng. Sinh bị mất chiếc nhẫn, mọi người cho rằng do bạn của Khảm lấy cắp, Khảm và Cấn bèn đi đòi. Ở nhà, Sinh đi tắm, lão Kiền nhìn trộm con dâu tắm. Tốn thấy vậy chỉ cho Đoài hành động của bố liền bị Đoài tát ngã vập mặt vào cái xô. Cuối cùng Tốn lau nhà tìm thấy cái nhẫn của Sinh, nhưng khi Cấn và Khảm trở về trong bộ dạng thảm hại vì mấy con chó béc-giê nhà kia thì lão Kiền lại bảo là Sinh giấu cái nhẫn trong cạp quần. Cấn mắng Sinh là “Đồ khốn nạn” rồi tát Sinh một cái nảy đom đóm mắt. Đoài cầm con dao ngăn lại dọa nếu Cấn còn đánh Sinh nữa thì sẽ đâm Cấn. Lão Kiền thì tiếc cái búa mà hai đứa con mang đi đòi lại nhẫn đã bị mất. Gần Tết, lão Kiền đi rút tiền tiết kiệm, mua quà cho Tốn và Sinh còn lại đưa cho Cấn giữ hết. Đoài lại dụ dỗ, gạ gẫm Sinh nhưng Sinh quyết liệt từ chối. Lúc giao thừa chỉ có Khiêm, Tốn và Sinh ở nhà. Đó là một buổi tối giao thừa vui vè và cảm động. Khiêm nhường Sinh lễ gia tiên trước vì Sinh là “bề trên”, rồi Khiêm mừng tuổi cho Sinh, Sinh lại mừng tuổi cho Tốn. Sau đó, lão Kiền và vợ chồng Cấn đi chúc Tết hàng xóm, Đoài ở nhà tiếp khách nhưng anh ta thậm chí không biết nhà người hàng xóm đến thăm mình có những ai và người hàng xóm cũng vậy. Tháng năm, Lão Kiền bị ốm, chữa cả Tây y, Đông y đều không khỏi, đến tháng mười thì phát hiện bị u não. Các con lão tính toán chi tiêu thấy rằng đã tốn kém rất nhiều để chữa bệnh cho cha và suy nghĩ về việc để cho bố chết thì hơn. Khi Cấn và Khiêm đang phân vân thì Đoài nói “Ai đồng ý bố chết giơ tay, tôi biểu quyết nhé”. Cuối cùng lão Kiền cũng được phẫu thuật, khi ngồi đợi ngoài phòng mổ, Đoài và Khảm rất lo lắng vì bố chưa viết di chúc. Sau đó, cũng chỉ có Sinh tận tình chăm sóc, phục dịch lão, còn Đoài và Khảm thì sợ lây bệnh nên có ý lảng tránh. Khi lão Kiền sắp mất, bà Hiển – em gái lão chép được bài kinh đẻ đọc giải tội giúp lão ra đi thanh thản. Đoài là người “nhiều chữ” nhưng không chịu đọc vì chữ viết xấu, cuối cùng chính Khiêm – người con tai làm nghề đồ tể lại đọc kinh cho cha nghe suốt đêm đến nỗi lạc cả giọng. Khoảng bốn giờ sáng hôm đó lão Kiền chết, Đoài rất mừng vì “may quá. Ông cụ đi rồi” và hăng hái đi mua quan tài. Một trăm ngày sau khi lão Kiền qua đời, Sinh sinh con gái. Trong lúc mọi người đang mở tiệc ăn mừng thì có người đến báo tin ông Vỹ - cậu ruột của các con ông Kiền mới chết đêm qua nhưng Đoài nói“Cứ gác lại đã, các cụ già chết đi có gì là lạ” và bảo mọi người hãy tiếp tục cuộc vui. Đề tài và chủ đề Đề tài Cuộc sống con người trong xã hội hiện đại Cuộc sống gia đình câu chuyện về gia đình ông Kiền. Cuộc sống xã hội quan hệ giữa gia đình ông Kiền với các gia đình hàng xóm. Chủ đề Sự suy thoái, xuống cấp của đạo đức và văn hóa truyền thống trong xã hội hiện đại. Phân tích Biểu hiện về sự băng hoại đạo đức qua sơ đồ trên và triết lý nhân sinh - Thứ nhất bức tranh con người đồ vật hóa dẫm đạp lên đạo đức truyền thống + Quan hệ giữa lão Kiền và 5 thằng con trai “ Lão Kiền suốt ngày cau có. Mọi người không ai thích lão. Lão kiếm ra tiền, lão cãi nhau với mọi người như cơm bữa, lời lẽ độc địa. Như với Đoài, lão bảo "Mày ấy à? Công chức gì mặt mày? Lười như hủi, chữ tác chữ tộ không biết, chỉ giỏi đục khoét". Hay với Khảm, cậu sinh viên năm thứ hai "Đồ ruồi nhặng! Học với chả hành! Người ta dạy dỗ mày cũng phí cơm toi”. Với Cấn, lão có đỡ hơn, thỉnh thoảng cũng khen, nhưng lời khen lại quá lời chửi "Hay thật, cái nghề cạo râu ngoáy tai của mày, nhục thì nhục nhưng hái ra tiền". Hay các chi tiết lão Kiền ăn nói tục tĩu với con cái, coi đồng tiền cao cả hơn tình yêu thương khi người các con xây xát vì vật lộn với con bécgiê khi đi gây sự đòi chiếc nhẫn của Sinh từ người bạn của Khảm “Lão Kiền hỏi Khảm "Có mang búa về không?". Khảm cáu "Tí nữa mất mạng với hai con chó bécgiê còn búa với lại kìm gì?". Lão Kiền bảo "Thế lại toi trăm bạc"; hay “ chúng mày cứ giết nhau đi, tao càng mừng” ->Chữ “ Cha” theo nghĩa nào? + Quan hệ với Sinh qua cách ứng xử của người Bố chồng “Lão Kiền loay hoay dưới bếp, nghe tiếng dội nước ở trong buồng tắm, thở dài, bỏ lên nhà. Đi vài bước, lão Kiền quay lại, vào trong bếp, bắc chiếc ghế đẩu, trèo lên nín thở ngó sang buồng tắm. Trong buồng tắm, Sinh đứng khỏa thân.” ->Sự băng hoại đạo đức của người cha, bản ngã phần Con lớn hơn phần Người trong người cha. + Quan hệ với Sinh qua cách ứng xử của Đoài- em chồng "Đoài nhìn chăm chú vào khoảng lõm ở ngực chị dâu, nơi chiếc khuy bấm vừa tuột ra, bâng quơ"Tình ơi tình, mình ơi mình, tình hở hang lắm cho mình ngẩn ngơ"; "Đoài đi theo, lấy cơm vào cặp lồng. Đoài đưa tay chạm vào lưng Sinh, Đoài bảo "Người chị tôi cứ mềm như bún";Đoài hổn hển "Tôi nói trước, thế nào tôi cũng ngủ được với Sinh một lần"; “Tối nay tôi vào buồng Sinh nhé!” ->Sự phi giáo dục từ nhân vật học thức về mối quan hệ gia đình, cách ứng xử trong gia đình. + Quan hệ anh em trong một gia đình “Cấn giơ nắm đấm trước mặt bố, bảo rằng "Ông liệu tống thằng ấy ra khỏi nhà này, không tôi giết nó"; Khiêm hỏi "Thằng Tốn đâu?". Cấn bảo "Nhà có việc, để nó ra vào bất tiện. Tôi nhốt nó trong cái buồng ở cạnh nhà xí". Khiêm cầm cái gạt tàn thuốc lá trên bàn ném vào mặt Cấn. Cấn kêu "ối" một tiếng rồi ngã lăn ra…” ->Anh em như thể tay chân!? - Thứ 2 bức tranh con người đồ vật hóa dẫm đạp lên đạo đức truyền thống bằng xâm hại bạo lực “Khi Sinh bảo "Tôi có ba đầu sáu tay đâu?" vì làm quần quật mà vẫn bị Cấn hạch tội để cho nhà trên hết nước sôi, Cấn đã trừng mắt "Nói năng thế à? Nhà này không có lệ thế! Mấy cái bát này sao chưa rửa?". Nói rồi, xô chồng bát, đi ra; Khi biết sự thực là Cấn đã nhốt Tốn trong cái buồng ở cạnh nhà xí vì ''Nhà có việc, để nó ra vào bất tiện", Khiêm đã "cầm cái gạt tàn thuốc lá trên bàn ném vào mặt Cấn. Cấn kêu "ối" một tiếng rồi ngã lăn ra. Khiêm xô vào đạp túi bụi";Khi nghe Cấn bảo thấy tận mắt thằng bạn của Khảm lấy cắp nhẫn của Sinh, Khảm bảo "Phải đến nhà nó mà đòi. Không trả thì đánh bỏ mẹ nó đi". Cấn xin đi theo Khảm. Lão Kiền bảo "Mang theo cái búa!"; Khi biết chiếc nhẫn của Sinh chẳng phải bị mất cắp, lại nghe lão Kiền bảo "Vợ mày giấu trong cạp quần chứ đâu", Cấn đã vừa bảo “Đồ khốn nạn" vừa "tát Sinh một cái nảy đom đóm mắt";Khiêm kể về công việc giết lợn. Hai tay cầm hai cực điện dí vào thái dương từng con, "éc" phát là chết. Bị mất điện, phải dùng xà beng quật vào gáy lợn. Gặp con lợn khỏe, quật chục cái không chết, gáy toét cả ra. Một ca Khiêm giết được hơn nghìn con lợn.” ->Trên cơ sở sự băng hoại về đạo đức trong tư tưởng của con người dẫn tới việc sử dụng bạo lực không tình thương của nhân cách con người. Nhìn vào mối quan hệ giữa các nhân vật được phân tích trên đây, khiến cho con người ta phải suy nghĩ lại nhân cách của con người, không thể để con người bị đồ vật hóa, lố bịch hóa một cách triệt để như vậy,đ ể làm mất những giá trị truyền thống của người nhân văn. Văn chương với nhiệm vụ hướng con người đến với Chân- Thiện- Mỹ thì mục tiêu lớn nhất là làm cho con người phải Người hơn. Jean-Paul Sartre nhà triết học hàng đầu của Pháp thế kỷ xx đã từng viết “Theo chúng tôi, trước hết con người tồn tại, có nghĩa là trước hết con người hướng tới tương lai, đồng thời có ý thức về sự hướng tới tương lai đó. Con người trước hết là một dự án project tự tồn tại chủ quan, chứ không như một đám rêu, một vật đang thối rữa, hoặc một cây súp lơ”. Đó chính là đòi hỏi về ý thức chủ quan tồn tại trong bản ngã con người. Họ cần vượt qua để không trở thành những đồ vật vô tri, vô giác, như “một đám rêu, một vật đang thối rữa, hoặc một cây súp lơ”. Triết lý về nhân sinh nhân chi sơ, tính bản thiện đặt ra một câu hỏi lớn và một thách thức lớn đối với con người chân thực. Con người phải như thế nào để phần Người phải chiến thắng phần Con trong thực thể Con người? Và làm người phải chăng là một thách thức lớn? Ý nghĩa nhan đề không có vua Mỗi tác phẩm ra đời đều mang một số phận khác nhau. Có những tác phẩm vừa ra đời nhưng đã chết ngấm trong làng văn học,nhưng có những tác phẩm vừa ra đời đã gây ra một vấn đề đáng để suy ngẫm và bàn với tác phẩm văn học “Không có vua” cũng ra đời, nó đã tạo ra nhiều luồng dư luận trái chiều, nó đã gây được tiếng vang ngay từ nhan đề của mình. Như chúng ta đã biết,vua chính là đấng quân vương của một nước,là người đứng đầu của một quốc gia. Để đất nước thịnh vượng, yên ổn, ấm no,hạnh phúc thì cần phải có một ông vua anh minh, sáng suốt, yêu dân như con. Vua chính là biểu tượng của sự tôn ti trật tự trong xã hội. “Không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp là một câu chuyện được kể về một gia đình, ở đó chính là bức tranh thu nhỏ của một xã hội,một đất nước nếu không có câu chuyện ấy,tác giả đã dùng ngòi bút của mình để lên án phê phán những thói xấu đang làm đảo điên xã hội. => "Không có vua", gợi nhớ từ "loạn cờ" được nhân vật Thủy - cô con dâu trong Tướng về hưu sử dụng. Khi nghe ông Thuấn ngỏ ý muốn giúp ông Cơ và cô Lài dọn đỡ việc nhà, cô Thủy liền phản đối “Cha là tướng, về hưu cha vẫn là tướng. Cha là chỉ huy. Cha mà làm lính thì dễ loạn cờ". “Không có vua” hay “loạn cờ” là trạng thái nhân thế đảo điên, không tôn ti trật tự, không chuẩn mực giá trị, không điểm tựa tinh thần. Tư tưởng của truyện ngắn “Không có vua” – Nguyễn Huy Thiệp. Thông qua việc phê phán sự nghịch dị các mối quan hệ trong gia đình, Nguyễn Huy Thiệp đưa ra bài học nhân sinh về con người. Con người sống tồn tại cần có chữ “Tâm” để làm cho mối quan hệ giữa người với người đỡ gay gắt và tốt đẹp hơn. Những người trong gia đình lão Kiền, thực chất ai cũng có những nét đẹp ẩn trong tâm hồn. Nhưng bình thường họ sống với nhau bằng sự ích kỉ, bằng bạo lực và những mưu tính riêng, vì thế, họ hằn học với nhau, hành hạ nhau cả về thể xác và tinh thần. Cuộc sống trong cái gia đình mất cân bằng âm-dương ấy chẳng khác nào một bàn cờ loạn vì “không có vua”. Tác giả còn đưa ra thuyết nhân quả của nhà Phật. Những điều mà lão Kiền đối xử với con cái, nhận lại hậu quả là lũ con biểu quyết cho bố chết. Lão yêu thương con, nhưng tình yêu thương ấy lại tồn tại dưới những lời đay nghiến, mỉa mai, khinh bỉ,… vì thế mà nó đẩy lão và lũ con xa nhau bởi lòng khinh ghét. Thật là chua xót biết mấy! Qua đó, tác giả như ngầm bảo chúng ta về sự tồn tại và cách cư xử của mỗi con người trong mối quan hệ với gia đình và xã hội. Người với người hãy sống lương thiện hơn. Dù giọng văn của NHT rất khách quan, lạnh lùng, nhưng ẩn sau đó, ta nhận ra tấm lòng thiết tha của tác giả với người, với đời. Tác giả muốn nhắn nhủ với chúng ta rằng cuộc đời này cũng giống như ly rượu có ngọt ngào và cả những đắng cay lời nhân vật Đoài, cuộc đời này “khổ chứ. Nhục lắm. Vừa đau đớn vừa chua xót. Nhưng thương lắm!”lời nhân vật Sinh. Chữ “thương lắm” rưng rưng ấy cho ta thấy, cuộc đời này thật sự đáng quý và đáng sống, nên hãy sống sao cho xứng đáng, cho đẹp. Về cảm hứng trong tác phẩm “Không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp. Cảm hứng thế sự truyện ngắn Không có vua là một tác phẩm không những tiêu biểu cho sáng tác của nhà văn xuất sắc Nguyễn Huy Thiệp mà còn tiêu biểu cho cả một nền văn học mới. Tác giả đã hướng ngòi bút của mình tới những vấn đề nhân sinh giản dị, gần gũi nhưng có nhiều điều đáng để đưa ra bàn bạc. Nguyễn Huy Thiệp không tập trung xây dựng hình ảnh Đất nước rũ bùn đứng dậy sáng lòa hay khắc họa những chị Tư, anh Núp… như biểu tượng của cả dân tộc; cũng không viết về cái không khí sục sôi của lòng căm hờn quân giặc… mà quan tâm, để ý tới cuộc sống bình thường của những con người bình thường, trong một xã hội hết sức bình thường. Điều này có thể được chứng minh qua thế giới nghệ thuật trong tác phẩm Hệ thống nhân vật tác giả lựa chọn cho ngòi bút của mình những nhân vật dù có tính cách riêng, đặc điểm riêng nhưng họ hệt như là những con người chân thực từ cuộc sống bước vào vậy. Họ là một gia đình bố Kiền, 5 người con trai Khảm, Khiêm, Đoài, Cấn, Tốn và 1 cô con dâu trưởng tên Sinh. Mỗi người một ngành, một nghề. Hệ thống ngôn ngữ cũng là những khẩu ngữ hay được sử dụng, có cả những câu chửi tục, chửi thề, những tiếng khóc, tiếng than… chứ không cầu kì, hoa mĩ. Các sự kiện Tác giả kể chuyện về gia đình này cũng toàn là những chuyện hằng ngày. Nào là chuyện buổi sáng, buổi tối, chuyện ngày giỗ, ngày Tết… Cô Sinh làm bữa, thằng Tốn lau nhà, ông Kiền sửa xe, Cấn cắt tóc, Khảm xin tiền học, Khiêm mang thịt từ lò mổ về… Tác phẩm cứ như một vở kịch với các cảnh diễn khác nhau, ghép lại, rời rạc nhưng vẫn có sức hấp dẫn lạ kì. Không gian quanh quẩn trong gian nhà chật chội của bố con nhà nọ, thỉnh thoảng có mở rộng tới bệnh viện,… nhưng cũng không có gì mới lạ, hư cấu một cách thái quá. Tất cả đều quen thuộc với mỗi con người. Thời gian cũng là những ngày từ sáng đến tối, cũng những ngày giỗ, ngày Tết như ai. Thế giới được miêu tả trong tác phẩm sống động như chính cuộc sống ngoài đời thực. Con người, cảnh vật hiện lên chân thật, gần gũi. Tất cả những thứ giản dị, đời thường ấy bước vào trang truyện hồn nhiên nhưng gợi cho người đọc bao suy nghĩ, trăn trở. Cuộc sống ấy, từ một gia đình như bao gia đình khác mà suy ra hình ảnh của cả xã hội. Cái xã hội cũng trọng tiền khinh tình, cũng bát nháo, nhố nhăng, cũng không có điểm tựa, cũng mất thăng bằng như thế. Tính thế sự của tác phẩm vì thế mà càng thêm sâu sắc, thấm thía. Nguồn cảm hứng này cũng là nguồn cảm hứng của cả một nền văn học sau đổi mới- khi các nhà văn quan tâm hơn đến số phận của những con người nhỏ bé, giản dị, không ai nhớ mặt đặt tên, quan tâm hơn đến vấn đề thực sự đặt ra đằng sau cuộc sống tưởng như không có gì để bàn cãi ấy. Cảm hứng phế phán, phản tỉnh không bằng lòng với những chiều kích hiện thực mở ra trước mắt, Nguyễn Huy Thiệp đã hướng ngòi bút của mình vào những địa hạt bình thường nhất, ít ai để ý nhất để tung ra những vấn đề nóng bỏng thu hút sự quan tâm của tất cả mọi người. Ông lay động, thức tỉnh mọi người nhìn sâu vào hiện thực. Đằng sau vẻ bề ngoài vốn êm đềm, mượt mà của gia đình nhà kia, đâu ai biết là cả một sự rối rắm, một ổ những thể loại người, đủ cả, từ già đến trẻ, từ thằng trí thức đến bọn bình dân… Với ngòi bút có sức mạnh đánh thức người đọc đừng vội tin, dạy người ta biết nghi ngờ tất cả, Nguyễn Huy Thiệp còn nhân đó mà moi móc ra đủ các loại bệnh tật của cái gia đình bình thường này, như biểu tượng cho một trong vô số những ung nhọt của xã hội. Nhà văn phê phán nhiều thứ lắm cái lối sống không tôn ti, trật tự, không có phép tắc, không đạo đức; cái loại người đê tiện, xấu xa mà giả danh tri thứ; cái tật xu nịnh cấp trên; cái tục thờ cúng truyền thống đang ngày càng mai một… Tất tần tật bằng ấy thứ nhồi nhét trong mấy ngày sinh hoạt của gia đình chồng chị Sinh. Chả trách câu chuyện cứ như muốn ứa ra, muốn vỡ ra vì ngột ngạt, dồn đọng. Nhà văn kể câu chuyện bằng một giọng quá ư là khách quan, quá ư là lạnh nhạt, tới mức dửng dưng, thờ ơ. Nhưng chính cái vẻ bất cần ấy lại tô đậm thêm tính chất phê phán với những vấn đề mà ông đặt ra trong tác phẩm của mình. Ông không phê phán bằng cách chửi thẳng vào mặt nhân vật của mình mà để bọn người ấy tự chửi nhau, không bình luận, đánh giá gì mà để bản thân cái khách quan ấy tự đánh giá chính nó. Chính cảm hứng phê phán, phản tỉnh này khiến câu chuyện của Nguyễn Huy Thiệp trở nên có chiều sâu, có tính triết lí và hấp dẫn bạn đọc nhiều hơn. Phân tích các phạm trù thẩm mĩ trong “Không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp Cái đẹp Ý nghĩa thẩm mĩ là một trong những phương diện tạo nên giá trị của tác phẩm văn học. Bên cạnh cái hài, cái bi, ta còn thấy được cái đẹp trong truyện ngắn “Không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp. Một điều dễ dàng nhận thấy đó là có sự pha trộn giữ các phạm trù thẩm mĩ trong tính cách của từng nhân vật tạo nên tính đa diện cho từng nhân vật. Nguyễn Huy Thiệp luôn nhìn nhân vật của mình dưới các góc độ khác nhau, chính vì thế nhân vật của ông không có ai tốt hoàn toàn, cũng không có ai xấu hoàn toàn. Đó là cách nhìn một cách toàn diện bởi lẽ trong con người ta luôn tồn tại phần “con” và phần “người”, giữa ý thức, trách nhiệm và khát vọng cá nhân. - Tuy nhiên trong truyện ngắn này ta thấy hiện lên hai nhân vật mà cái đẹp nổi trội hơn đó là Sinh và Tốn. Trước hết là Sinh, người phụ nữ mới về làm dâu nhà lão Kiền, vợ của Cấn. Cô về làm dâu nhà lão Kiền cũng có nghĩa là cô đã lạc vào thế giới “phàm phu tục tử” của những người đàn ông, những người sống mạnh mẽ, sòng phẳng và có phần hoang dã. Sinh xuất hiện trong một gia đình toàn đàn ông được ví như cơn mưa giữa mùa đại hạn kéo dài "Sinh lọt vào gia đình nhà này tựa như cơn mưa rơi xuống đất nẻ. Không khí dịu lại. Vài tháng đầu, lão Kiền không gây sự gì với con cái. Cấn là người hạnh phúc nhất. Anh cầm kéo cắt tanh tách, đối xử với khách hết sức nhã nhặn"... Nhưng với bản tính chân thực, lương thiện và cũng gọi là “có ít kiến thức”, Sinh đã làm thay đổi không khí sinh hoạt của cả gia đình lão Kiền. Sinh về làm dâu mang theo cả một “phản đề” lớn cho cái thế giới ngồn ngộn những hỗn độn ấy. Có Sinh ngôi nhà mang một dáng vẻ mới. Một “vị vua” hiện diện. Một “trật tự như thế” đã được thiết lập. Cha con lão Kiền thôi bớt thô tục và cục cằn. Nhưng không lâu sau, chính Sinh lại là người phải hứng chịu hậu quả của lối sống ngột ngạt đó, đến mức cô phải đưa dao ra dọa Đoài để y không đến gần mình…Với vai trò người phụ nữ duy nhất trong gia đình, Sinh đảm nhiệm việc nội trợ trong gia đình, ngày phục vụ 3 bữa cơm chu tất cho 6 người đàn ông. Nét đẹp ở nhân vật Sinh còn ở chỗ cô dành tình cảm thương yêu cho Tốn như đối với người em trai bằng tuổi Tốn ở nhà cô vậy. Tuy có lúc thất vọng, chán nản với cuộc sống nhà chồng nhưng Sinh vẫn cảm thấy "Khổ chứ. Nhục lắm. Vừa đau đớn, vừa chua xót. Nhưng thương lắm”. - Trong giữa bối cảnh gia đình hỗn độn như vậy, Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng nên hình ảnh nhân vật Tốn với một dụng ý nghệ thuật sâu xa. Tốn tuy có hình thể xấu xí "bị bệnh thần kinh, người teo tóp, dị dạng" nhưng không vì thế mà những phẩm chất bên trong nhân vật này bị mất đi. Tốn "không chịu được bẩn", anh là người duy nhất trong gia đình quan tâm đến việc lau nhà. Ngay cả khi bị nhốt trong nhà xí vừa được thả ra, thấy nhà bẩn là anh lại lao ngay vào làm nhiệm vụ thường ngày của còn "hay giúp đỡ Sinh, nó cư xử với Sinh bằng lòng tốt vô bờ bến". Có thể nói Tốn là người duy nhất trong gia đình đối xử với Sinh bằng tình cảm chân thật của mình. Phải chăng Tốn yêu quý Sinh, coi Sinh như người chị, người mẹ của mình vì cậu mồ côi từ nhỏ. "Những ý thích nhỏ nhặt của cô, nó thực hiện với lòng tận tụy cầm thú" , Nửa đêm, nếu Sinh buột miệng "có ô mai thì thích" là sẽ có ngay ô mai. Không biết Tốn lấy tiền ở đâu, đi mua lúc nào, chuyện này chịu”. Khi bốn ông anh biểu quyết để bố chết thì Tốn bật khóc hu hu...Đó là tiếng khóc của một con người tuy không ý thức được mình nhưng lại là tiếng khóc chân thực nhất. Ta đặc biệt chú ý đến chi tiết Khi được Khiêm giải phóng khỏi buồng cạnh nhà xí, Tốn "chân tay mặt mũi đen nhẻm nhe răng cười" rồi "lết đôi chân què đi lên nhà"... Nhưng phải chăng ở nhân vật này lại tồn tại nguyên sơ tất cả bản năng thiện của loài người khi loài người chưa được "văn minh hóa". Khi đặt Tốn cạnh hai ông anh cử nhân Đoài và Khảm, người đọc được dịp cùng đối thoại Phải chăng hệ quả của quá trình văn hóa hóa, văn minh hóa là bản năng thiện gặp gỡ phương Đông "nhân chi sơ tính bản thiện" của con người có nguy cơ bị triệt tiêu? Nếu chỉ có Sinh và Tốn thì có lẽ nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp trở nên đơn điệu. Không có lão Kiền, Đoài, Khiêm thì câu chuyện sẽ không được nhìn nhận một cách đa chiều. Thoạt nhìn có thể thấy nhân vật trong truyện chia làm 2 phe, trí thức và lao động chân tay. Nhưng dù ở phe nào đi nữa thì những con người ấy đều hiện lên với sự hỗn độn, bát nháo, không có vua. - Đó là một Lão Kiền suốt ngày cau có, chực cơ hội để xổ toẹt vào con cái những lời độc địa; bỉ ổi nhìn trộm con dâu tắm khỏa thân; nhẫn tâm khi đồng lõa, hợp tác với con cả nhốt con út bệnh hoạn vào buồng cạnh nhà xí để “giữ thể diện” với khách khứa... Nhưng lão cũng đáng thương khi thành thực "Đàn ông chẳng nên xấu hổ vì có con b...” "Làm người nhục lắm" "Mẹ cha mày, tao chỉ nghĩ thân tao, thì lũ chúng mày được thế này à?"... Lão đã hi sinh hạnh phúc cá nhân, một đời sống cho con cái, sống vì con cái. Và lão trở nên đáng yêu khi Rằm tháng Chạp, đi ngân hàng rút lãi tiết kiệm, mua cho Tốn cái áo sơ mi, mua cho Sinh đôi bít tất, còn lại tiền đưa cả cho Cấn; khi sáng mồng một Tết áo quần tề chỉnh cùng vợ chồng con cả đi chúc Tết hàng xóm... Và nữa, khi lão Kiền tắt thở, trên môi lão "thấp thoáng nụ cười, trông rất hiền lành, trung hậu". Phải chăng, chỉ khi "mãn hạn làm người", con người ta mới được trở về với bản tính thiện sơ nguyên của mình? - Đoài một người có trình độ cao nhất trong gia đình, làm ở Bộ giáo dục lại là người bỉ ổi, vô đạo đức, vô giáo dục nhất, trình độ ở đây không tỉ lệ thuận với đạo đức. Đoài đóng vai tính cách chẳng ăn nhập gì với vai xã hội "Lười như hủi, chữ tác chữ tộ không biết, chỉ giỏi đục khoét!" như lời lão Kiền chửi. Giữa bữa cơm gia đình, có thể nhìn chăm chú vào khoảng lõm ở ngực chị dâu, nơi chiếc khuy bấm vừa tuột ra, bâng quơ trơ trẽn khiến chị dâu ngượng chín cả mặt. Ngang nhiên sàm sỡ, đòi ngủ với chị dâu, đòi đuổi anh trai ra khỏi nhà để chiếm chị dâu. Có thể đang khi chặt thịt gà, tay đầy mỡ, cứ để thế không rửa tay, chạy lại bàn thờ mẹ vái lia lịa. Lạy gì không lạy lại lạy mẹ phù hộ cho "đi học nước ngoài, kiếm cái xe Cub". Biểu quyết để bố chết khi lâm bạo bệnh. Thở phào "Thật may quá" khi nghe bố tắt thở. Gác lại đã việc nhận điện ông cậu chết vì đang dở cuộc vui, với lại "Các bác già chết đi có gì là lạ?" Ở nhà thì cãi lại cha, đối xử tệ với người thân nhưng ra ngoài lại xu nịnh cấp trên để mong thăng quan, tiến chức... Nhưng ở nhân vật này cũng tỏ ra tử tế "Con xin lỗi bố", biết cảm thông, chia sẻ với người khác vì thông cảm cho con người đàn ông của bố, vì biết ơn sự hy sinh của bố sau khi nghe bố "nói chuyện đàn ông". Đoài tỏ ra nghĩa khí bênh vực kẻ yếu "Anh mà đụng vào cô ấy là tôi chém liền!" khi anh trai sắp giở trò vũ phu với chị dâu. Đoài cũng biết giúp Tốn dọn nhà đón mẹ con Sinh về. Trong bữa tiệc mừng thành viên mới, Đoài rót rượu ra cốc, đứng lên nói "Cốc rượu này tôi dâng cuộc sống…Vì đứa trẻ mới sinh ra kia, vì tương lai của nó"... - Khiêm một nhân vật có thể được coi là đồ tể, vũ phu nhất nhưng lại có tấm lòng ấm áp, bao dung, thương yêu mọi người nhất. Công việc của hắn là tay đồ tể "ngoại hạng", mắt "vằn tia máu đỏ", một công việc sát sinh, ăn cắp của công một năm "ăn cắp đến nửa tấn thịt" theo phép thống kê của Đoài, và "hai trăm sáu mươi bộ lòng" theo phép thống kê của Khảm, sòng phẳng đến tàn nhẫn với anh trai khi ép anh trai nhận tiền công cắt tóc "Không phải người ngoài, anh không nhận thì thôi, tôi đi hàng khác, tôi bắt thằng khác ngoáy tai cho tôi"... Nhưng Khiêm lại rất mực tử tế với chị dâu trước mâm cỗ đêm giao thừa, Khiêm bảo "Chị là bề trên, chị cứ vái ba vái trước còn đâu tôi khấn"; Khiêm bảo "Năm mới, chúc chị Sinh sức khỏe, may mắn. Mừng tuổi chị một nghìn, chị cầm lấy để cho có lộc" khiến Sinh rớm nước mắt. Khiêm rất mực tử tế với đứa em tật nguyền là Tốn đã nổi giận lôi đình khi biết anh cả chỉ vì ích kỉ muốn giữ thể diện mà có thể nhẫn tâm nhốt thằng em vào buồng cạnh nhà xí. Khiêm đã "tặng" cho Sinh và Tốn một buổi tối giao thừa vô cùng "cảm động". Khiêm cũng tử tế rất mực với bố. Bên giường bệnh của bố, khi đêm đã khuya, mọi người đã đi ngủ, "Khiêm vẫn ngồi đọc. Đọc đi rồi lại đọc lại. Đại ý bài kinh xin đức Phật giải tội cho người sắp chết, để nghiệp chướng cho người sống chịu, lời lẽ khó hiểu. Suốt đêm Khiêm ngồi đọc, lạc cả giọng"... hài Tính cách đặc biệt của một số nhân vật Sự hài hước trong tính cách được làm nên từ sự đối lập giữa nghề nghiệp, địa vị, học vấn với trình độ văn hóa và bản chất con người - Đoài rõ ràng là công chức ngành giáo dục, nhưng bản chất lại giống như một kẻ vô giáo dục dâm ô, đê tiện, hám tiền của, bất hiếu… - Khảm sinh viên đại học, cũng là kẻ có học, nhưng tính cách phóng túng, không có chính kiến, cũng bị mắc bệnh hám của và bất hiếu giống như người anh thứ hai của mình. => sự phi lí trong tương quan giữa “vai xã hội” và tính cách, ắt hẳn ban đầu sẽ gây cho người đọc tiếng cười nhẹ nhàng mang tính chất mỉa mai, chế giễu. Trong lời thoại Một số đoạn hội thoại của mấy người con lão Kiền có lẽ có thể dựng thành hài kịch, họ trêu đùa nhau, “đá đểu” nhau, cạnh khóe nhau một cách hài hước, thậm chí lấy cái dung tục để gây hài. Chẳng hạn + Đoạn thoại giữa ông Kiền, Đoài và Khảm về câu chuyện sự tích ông Táo trong bữa cơm ngày 23 tháng Chạp, + Đoạn thoại giữa Đoài với ông hàng xóm ngày mùng một Tết. + Đoạn thoại giữa Khảm-My Lan-Việt Hùng trong ngày giỗ bà Nhớn. => Cách trần thuật lạnh lùng, hết sức khách quan đã làm cho tiếng cười bật ra một cách tự nhiên và sinh động. Trong hành động, thói quen của nhân vật Có thể chắt lọc ra trong truyện rất nhiều chi tiết hài hước mà thoạt tiên, người đọc ai cũng phải bật cười - Những chi tiết nói về hành động ngây ngô của thằng Tốn luôn cặm cụi lau sàn, sẵn sàng giúp đỡ chị Sinh bất cứ lúc nào và thực hiện việc đó ngay lập tức sau khi có lệnh…. => Tiếng cười thương cảm - Bữa cơm gia đình cha con lão Kiền “ăn cơm chẳng mời ai, sáu người đàn ông, ai cũng cởi trần, mặc quần đùi cười nói thản nhiên, chan chan húp húp như rồng cuốn” => Tiếng cười bật lên từ sự phi lí tới nực cười trong lối ứng xử của các thành viên trong gia đình với nhau, suồng sã tới vô lối,chẳng có một chút tôn ti trật tự nào. - Sổ kế toán “gián điệp” của lão Cấn, giấc mơ của Khảm sau khi nghe Khiêm kể chuyện giết lợn của mình... =>Tiếng cười vui vẻ nhẹ nhàng bật lên từ những chi tiết hài hước bi Thế nhưng, dường như tất cả những tiếng cười ấy đều ẩn chứa trong nó một sự tình có vấn đề, khiến người ta cười xong mà phải suy ngẫm, ám ảnh, có cái gì như nỗi đau, như bi kịch trong câu chuyện của gia đình lão Kiền ấy. Như cách nói của một nhà nghiên cứu, Nguyễn Huy Thiệp có tài “nói chuyện hài mà cái bi luôn chầu chực để xé nát cái cười thoáng qua đó thôi”. Đọc “Không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp cũng vậy, cái cười chỉ kịp thoáng qua, và ngay lập tức, người ta nhận thấy cái buồn đau ẩn chứa trong đó - Buồn cho luân thường đảo lộn, tình người phôi pha cha không tôn trọng con cái, con coi cha như kẻ bằng vai phải lứa, anh em tính toán với nhau, không coi nhau ra gì… - Buồn cho đạo đức con người đang dần bị băng hoại, đạo đức truyền thống trong cơn đảo điên không hề có chỗ đứng sự băng hoại đạo đức của người cha khi để phần “con” lấn át phần người chi tiết lão Kiền xem trộm con dâu tắm, sự đê tiện của một kẻ mang danh học thức như Đoài, một chàng công tử chỉ thích phong lưu và vô dụng như Khảm, một kẻ bạo lực và dữ dằn như Khiêm… - Buồn cho cả một xã hội coi đồng tiền quan trọng hơn cả tình người và sự sống của những người thân, coi “tiền là vua”, nó có lẽ là đầu mối cho mọi sự băng hoại. Tựu chung lại, có lẽ phải nói rằng, truyện “Không có vua” từ đầu chí cuối là một câu chuyện buồn, cái cười chỉ là cái bề mặt và là cái thoáng qua mà thôi. Nói như vậy để thấy rằng, giá trị thẩm mĩ của truyện được toát lên trước hết ở sự đan xen hữu ý giữa cái hài và cái bi, làm nên những ý nghĩa sâu sắc. Phụ lục Phân tích những điểm tốt, điểm xấu của các nhân vật trong Không có vua của Nguyễn Huy Thiệp Nhân vật Điểm xấu Điểm tốt Lão Kiền Suốt ngày cau có, chực cơ hội để xổ toẹt vào con cái những lời độc địa Bì ổi nhìn trộm con dâu tắm khỏa thân. Nhẫn tâm đồng lõa hợp tác với con cả nhốt con út bệnh tật vào buồng cạnh nhà xí để giữ thể diện với khách khứa Lão cũng đáng thương khi thành thực”Đàn ông chẳng nên xấu hổ vì có cái b…”. “Làm người nhục lắm”… Đứng trước bàn thờ khấn vợ lão đã khóc Lão trở nên đáng yêu khi rằm tháng chạp đi ngân hàng rút tiền tiết kiệm mua cho Tốn một chiếc áo sơ mi, mua cho Sinh một đôi bít tất, còn lại tiền đưa cho Cấn. Sáng mùng một tết áo quần chỉnh tề cùng vợ chồng con cả đi chúc tết hàng xóm. Cấn Nóng tính, vũ phu”Tát Sinh một cái nảy đom đóm mắt”. Đồng lõa với bố nhốt em trai út vào buồng cạnh nhà xí để giữ thể diện. Kiếm ra tiền để trang trải cuộc sống gia đình. Là “kế toán” của gia đình, mọi khoản chi tiêu đều ghi chép rất rõ ràng Đoài Là công chức giáo dục nhưng lại là kẻ vô giáo dục” Lười như hủi, chữ tác, chữ tộ không biết chỉ giỏi đục khoét” Mua chuộc nịnh bợ cấp trên Giữa bữa cơm gia đình có thể nhìn chăm chú vào khoảng lõm giữa ngực chị dâu nơi chiếc khuy áo vừa tuột ra. Ngang nhiên sàm sỡ đòi ngủ với chị dâu Đòi đuổi anh trai ra khỏi nhà để chiếm chị dâu. Đang chặt thịt gà, tay dầu mỡ, không rửa tay chạy lại bàn thờ khấn vái lia lịa Biểu quyết để bố chết khi bố lâm bệnh Cũng có lúc tỏ ra hối lỗi “Con xin lỗi bố” khi nhận ra những hy sinh của người bố Tỏ ra bênh vực kẻ yếu “Anh mà đụng vào cô ấy là tôi chém liền” Cũng biết giúp Tốn dọn dẹp nhà cửa đón mẹ con Sinh. Khiêm Tay đồ tể “ngoại hạng”, Mắt “vằn tia máu đỏ”. Một năm ăn cắp đến nửa tấn thịt và hai tram sáu mươi bộ lòng lợn. Sòng phẳng đến tàn nhẫn với anh trai khi ép anh trai nhận tiền công cắt tóc. Tử tế với chị dâu và đứa em tật nguyền. Khiêm đã “tặng” cho Sinh và Tốn một đêm giao thừa vô cùng “cảm động” Kính trọng chị dâu nhường chị cúng tổ tiên trước bởi vì chị là bề trên Bên giường bệnh của bố, khi đêm đã về khuya mọi người đã ngủ Khiêm đã đọc kinh đến “lạc cả giọng” để bố ra đi được thanh thản. Khảm Đi dân quân lại ăn trộm khoai lang của dân theo lời của Mỹ Lan bạn Khảm nói Ti tiện thỏa hiệp với Đoài nếu tán được Mỹ Trinh con gái ông “Ánh sáng ban ngày” thì thưởng cho em cái gì. Là sinh viên Đại học, có giáo dục. Tốn Bị bệnh thần kinh, người teo tóp dị dạng. Là người chăm chỉ Luôn giúp Sinh lau nhà giặt giũ. Tốn không chịu được bẩn cứ chốc chốc lại cầm cái xô và giẻ lau ra lau nhà. Ở nhà cứ ai thay quần áo ra Tốn lại cầm đi giặt, giặt rất sạch và phơi phóng cẩn thận. Tính cách Ít nói ai hỏi cũng cười bén lẽn và trả lời nhát gừng Tốn đối xử với Sinh bằng lòng tốt vô bờ bến “ Những ý thức của Sinh nó thực hiện bằng long tận tụy cầm thú” Khi bốn người anh biểu quyết để bố chết thì Tốn bật khóc huh u. Khi được Khiêm giải phóng khỏi buồng cạnh nhà xí, Tốn” Chân tay mặt mũi đen nhẻm nhưng vẫn nhe răng ra cười” Sinh Giấu nhẫn vào cạp quần rồi nói với chồng là bị mất trộm Sinh là người phụ nữ nhẫn nhịn chồng, chăm sóc gia đình nhà chồng hết mực, ngày ba bữa cơm Bị em chồng sàm sỡ nhưng cô nhẫn nhịn không nói với chồng sợ làm mất hòa khí gia đình nhà chồng Chung thủy với chồng VJE Tạp chí Giáo dục, Số 455 Kì 1 - 6/2019, tr 35-38 NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN “KHÔNG CÓ VUA” CỦA NGUYỄN HUY THIỆP Võ Thị Bảy, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng Ngày nhận bài 01/04/2019; ngày sửa chữa 20/04/2019; ngày duyệt đăng 03/05/2019. Abstract Narratology is a subject that that studies the narrative structure of story. The narrative theory focuses on studying the role of narrators in “engaging” in the text structure. Application of narrative theory into research works “No King” of Nguyen Huy Thiep helps students to understand the internal structure of the work and see the contribution of the writer as a creator. Keywords Narrative, storytelling, exposition, art, No King. 1. Mở đầu ra các ngôi kể khác nhau. Ngôi kể chính là sự hóa thân Tự sự học là phân môn nghiên cứu cấu trúc diễn ngôn của người KC vào từng nhân vật để trực tiếp tham gia truyện kể. Lí thuyết tự sự học tập trung nghiên cứu vai vào câu chuyện. Người KC sẽ chi phối các ngôi kể. Khi trò của người trần thuật trong việc “can dự” vào cấu trúc người KC đứng ở ngôi thứ nhất, trực tiếp tham gia vào văn bản. Nghệ thuật tự sự có ý nghĩa rất lớn đối với sự các sự kiện diễn biến của câu chuyện chúng ta có ngôi thành công của một tác phẩm, đồng thời, cũng khẳng kể chủ quan hóa. Ngược lại, trong trường hợp người KC định tài năng của nhà văn. Việc ứng dụng lí thuyết tự sự đứng ngoài mọi sự kiện, đóng vai trò người dẫn dắt hay học vào nghiên cứu tác phẩm Không có vua của Nguyễn người KC ở ngôi thứ ba tạo ra ngôi kể khách quan hóa. Huy Thiệp không chỉ giúp tìm hiểu cấu trúc nội tại của Tuy nhiên, có thể nhận thấy, dù ở ngôi kể nào thì chúng tác phẩm mà còn thấy được những đóng góp của nhà văn cũng là những ước lệ đại diện cho một cách nhìn, một với tư cách là người sáng tạo. tư tưởng nhất định, có quan hệ mật thiết với hình tượng Ở bài viết này, chúng tôi tìm hiểu nghệ thuật tự sự tác giả. trong truyện ngắn Không có vua của Nguyễn Huy Thiệp Một trong những đặc điểm nổi bật của truyện ngắn ở những điểm như người kể chuyện KC và điểm nhìn Không có vua là hình thức trần thuật từ ngôi thứ ba. Ưu trần thuật; ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật; không gian, thế của ngôi kể thứ ba này là làm cho câu chuyện được thời gian nghệ thuật nhằm tiếp cận một cách có hệ thống kể hoàn toàn khách quan, tạo được lòng tin ở người đọc. cấu trúc nội tại của tác phẩm dưới góc nhìn tự sự học. Qua nhân vật người KC, ta nhận ra Không có vua của Kết quả nghiên cứu hi vọng có thể giúp sinh viên ngành Nguyễn Huy Thiệp là câu chuyện được kể về một gia Ngữ văn có cái nhìn sâu sắc, đa dạng trong việc tiếp nhận đình bị băng hoại về đạo đức, không có tôn ti trật tự, tác phẩm trên bình diện lí luận văn học. không có chuẩn mực giá trị. Họ sống với nhau bằng sự 2. Nội dung nghiên cứu ích kỉ, bằng bạo lực và những mưu tính riêng, vì thế, họ hằn học, hành hạ nhau cả về thể xác lẫn tinh thần. Cuộc Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật trong sống trong cái gia đình ấy chẳng khác nào một “bàn cờ truyện ngắn Không có vua của Nguyễn Huy Thiệp loạn” vì “không có vua”. Đồng thời, từ ngôi kể thứ ba, ta Người kể chuyện trong truyện ngắn Không có vua nhận ra được tính cách của từng nhân vật Lão Kiền suốt Người KC là một trong những vấn đề trung tâm của ngày cau có, chực cơ hội để “xổ toẹt” vào con cái những thi pháp văn xuôi hiện đại, là sản phẩm của sự sáng tạo lời độc địa, hành động bỉ ổi; Cấn nóng tính, vũ phu; nghệ thuật, là công cụ do nhà văn hư cấu nên để KC. Vì Đoài là kẻ vô giáo dục; Khiêm, tay đồ tể “ngoại hạng”, vậy, người KC trong tác phẩm tự sự là một nhân vật mắt “vằn tia máu đỏ”, sòng phẳng đến tàn nhẫn với anh mang tính chức năng, trước hết là chức năng tổ chức kết trai; Khảm ti tiện, nghi kị với chính anh em của mình. cấu tác phẩm bao gồm hệ thống hình tượng nhân vật, hệ Ngược lại với họ, Sinh và Tốn là những người hiền lành, thống các sự kiện, liên kết chúng lại tạo thành một tác tốt bụng. Trước hết là Sinh, với vai trò người phụ nữ duy phẩm. Mặt khác, người KC còn có chức năng môi giới, nhất trong gia đình, cô đảm đang việc nội trợ, ngày phục dẫn dắt người đọc tiếp cận thế giới nghệ thuật. Ngoài ra, vụ 3 bữa cơm chu tất cho 6 người đàn ông; cô còn là người KC còn thay mặt nhà văn trình bày những quan người vợ chung thủy với chồng và thương yêu Tốn - điểm về cuộc sống, về nghệ thuật. người em chồng bệnh tật; Tốn tuy có hình thể xấu xí “bị Tư cách, vị thế của nhân vật người KC trong mối bệnh thần kinh, người teo tóp, dị dạng” nhưng rất siêng quan hệ với tác giả chủ thể và đối tượng được kể tạo năng và tình cảm. Tốn siêng làm việc nhà, hay giúp đỡ 35 VJE Tạp chí Giáo dục, Số 455 Kì 1 - 6/2019, tr 35-38 Sinh và cư xử với Sinh “bằng lòng tốt vô bờ bến”. Khi anh lại rất mực tử tế với chị dâu và Tốn. Khiêm đã khiến bốn ông anh biểu quyết để bố chết thì Tốn bật khóc hu cho Sinh cảm động đến “rớm nước mắt” trong đêm giao hu. Đó là tiếng khóc của một con người tuy không ý thức thừa. Anh cũng rất mực tử tế với bố. Bên giường bệnh được mình nhưng lại là tiếng khóc chân thực nhất. Qua của bố, khi đêm đã khuya, mọi người đã đi ngủ, anh vẫn nhân vật người KC ở ngôi thứ ba, có thể nhận thấy, các ngồi đọc bài kinh xin đức Phật giải tội cho người sắp nhân vật hiện lên trong truyện với sự hỗn độn, bát nháo. chết đến “lạc cả giọng”. Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Không có Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong truyện vua của Nguyễn Huy Thiệp ngắn Không có vua của Nguyễn Huy Thiệp Điểm nhìn trần thuật là một trong những yếu tố quan Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Không có trọng của kết cấu văn bản nghệ thuật. Có thể nói, bất kì vua một nhà văn nào khi xây dựng tác phẩm, xây dựng hình Ngôn ngữ trần thuật là yếu tố cơ bản thể hiện phong tượng để thể hiện cái nhìn về thế giới của mình đều phải cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính của xác định một chỗ đứng, một góc quan sát. Muốn hiểu tư tác giả và bộc lộ rõ ý thức sử dụng ngôn ngữ của nhà văn. tưởng nhà văn trong tác phẩm không thể không tìm hiểu Ngôn ngữ trần thuật là một phương diện rất phức tạp của điểm nhìn, bởi đây chính là yếu tố đầu tiên, quan trọng nghệ thuật tự sự. Nó là ngôn ngữ đa thanh vì đặc trưng đưa người đọc vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm. của ngôn ngữ văn xuôi là sự tác động qua lại rất phức tạp Căn cứ vào vị trí khác nhau của người KC sẽ có giữa tiếng nói tác giả, người KC và nhân vật, giữa ngôn những điểm nhìn trần thuật khác nhau. Về cơ bản, có ba ngữ miêu tả và ngôn ngữ được miêu tả. Trong truyện loại điểm nhìn điểm nhìn biết hết điểm nhìn “toàn tri”, ngắn Không có vua, Nguyễn Huy Thiệp thành công ở điểm nhìn bên trong điểm nhìn “hạn tri”, điểm nhìn việc xây dựng ngôn ngữ đối thoại. Đối thoại giữa nhân bên ngoài. vật - nhân vật, nhân vật - người đọc, tác giả - người đọc. Trong truyện ngắn Không có vua, nhà văn sử dụng Đặc điểm nổi bật trong ngôn ngữ trần thuật của lối trần thuật ngôi thứ ba nên điểm nhìn trần thuật xuyên truyện ngắn Không có vua là nhà văn đã đưa lời đối thoại suốt câu chuyện là điểm nhìn bên ngoài. Góc nhìn không của nhân vật vào trong tác phẩm có kèm theo lời dẫn phải của bất cứ nhân vật nào trong truyện. Nhà văn không thoại. Nhưng lời dẫn thoại của người KC luôn được đặt chủ tâm đi sâu biểu hiện tư tưởng, tình cảm nội tâm của trong sự hạn chế tối đa. Số lượng từ ngữ thường được nhân vật mà chỉ kể lại sự kiện hoặc ngôn ngữ, cử chỉ, khuôn mình trong cấu trúc của một câu đơn hai thành hành động, ngoại hình và hoàn cảnh của nhân vật trong phần ngắn gọn như “Đoài bảo”, “Cấn hỏi”, “Khiêm truyện. Nhờ vậy, sự kiện trong tác phẩm, tính cách, cử nói”... Lời dẫn thoại kiểu này làm nhạt hóa vai trò người chỉ của từng nhân vật cũng được phơi bày. Qua đó, ta KC. Sự nhạt hóa dấu ấn ngôn ngữ của người dẫn dắt đã nhận thấy được, Nguyễn Huy Thiệp luôn nhìn nhân vật tạo điều kiện thuận lợi để nhân vật tự trình diễn ngôn ngữ của mình dưới các góc độ khác nhau, chính vì thế nhân của mình. Chính vì vậy, những đoạn thoại trong truyện vật của ông không có ai tốt hoàn toàn, cũng không có ai ngắn Không có vua khiến người đọc có cảm giác chỉ có xấu hoàn toàn. Đó là cách nhìn một cách toàn diện bởi lẽ nhân vật nói với nhau và chỉ có nhân vật với độc giả, nhờ trong con người ta luôn tồn tại phần “con” và phần vậy, tạo nên không khí đối thoại trực diện, căng thẳng, “người”, giữa ý thức, trách nhiệm và khát vọng cá nhân. giàu kịch tính. Vì vậy, những người trong gia đình lão Kiền, thực chất Ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn Không có vua ai cũng có những nét đẹp ẩn trong tâm hồn. Tác giả nhìn thiên về bày tỏ chính kiến, khẳng định ý thức chủ thể ra bên cạnh một người cha cục cằn, thô lỗ thì lão Kiền nhân vật. Những lời nói mang khuynh hướng tư tưởng còn là người đáng thương, biết thành thực, biết hi sinh để đối lập nhau gay gắt tạo nên kịch tính cho đối thoại. Xung sống cho con cái “tao chỉ nghĩ thân tao, thì lũ chúng mày đột kịch được tạo ra qua ngôn ngữ đối thoại là những được thế này à?”. Hoặc những điểm tốt ở Đoài có lúc xung đột giữa các ý thức của các chủ thể mang những nội Đoài cũng tỏ ra tử tế vì thông cảm và biết ơn sự hi sinh dung tấn công - phản công. của bố. Khi anh trai sắp giở trò vũ phu với chị dâu, Đoài Ngoài ra, ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn tỏ ra nghĩa khí bênh vực kẻ yếu. Ngoài ra, Đoài cũng biết Không có vua còn được thể hiện như “tuyên ngôn” của quan tâm đến những thành viên khác trong gia đình. Anh nhân vật, nó ám ảnh, ám dụ người đọc cùng suy ngẫm để giúp Tốn dọn nhà đón mẹ con Sinh từ bệnh viện về. rồi tự mỗi người đưa ra lời bình luận riêng của mình. Trong bữa tiệc mừng thành viên mới, Đoài rót rượu ra cốc, đứng lên nói “Cốc rượu này tôi dâng cuộc sống... Giọng điệu trần thuật trong Không có vua Vì đứa trẻ mới sinh ra kia, vì tương lai của nó”. Và Theo Từ điển Thuật ngữ văn học, nói tới giọng điệu Khiêm cũng vậy, vẻ bề ngoài lạnh lùng, cục mịch nhưng là nói tới “thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo 36 VJE Tạp chí Giáo dục, Số 455 Kì 1 - 6/2019, tr 35-38 đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện Không gian trong truyện Không có vua là không gian trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, thực. Không gian quanh quẩn trong gian nhà chật chội sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành của gia đình lão Kiền. Hoặc không gian ở bệnh viện nơi kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm” [1; tr 134]. các cậu con trai đang ngồi chờ bố phẫu thuật lúc lâm bạo Có rất nhiều yếu tố tạo nên giọng điệu trần thuật trong đó bệnh, nhưng cũng không có gì mới lạ. Đây là không gian yếu tố quan trọng nhất chính là cảm hứng của người KC. tồn tại quen thuộc của cuộc sống đời thường. Chính cái Giọng điệu là kết cấu siêu văn bản, là yếu tố quan trọng không gian quen thuộc, chật chội này đã nảy sinh ra biết tạo nên phong cách nhà văn, có vai trò thống nhất các bao chuyện bi hài. Ở đó, luân thường bị đảo lộn, tình yếu tố khác của hình thức tác phẩm vào một chỉnh thể. người phôi pha cha không tôn trọng con cái, con coi cha Dựa vào những tiêu chí khác nhau mà người ta có cách như kẻ bằng vai phải lứa, anh em tính toán với nhau, phân loại giọng điệu khác nhau như giọng trang trọng không coi nhau ra gì. Đạo đức con người đang dần bị hay thân mật, giọng mạnh mẽ hay yếu ớt, giọng thiết tha băng hoại, đạo đức truyền thống trong cơn đảo điên hay lạnh lùng, giọng bi hay hài, châm biếm hay trữ tình... không hề có chỗ đứng. Qua đó, tác giả lên tiếng phê phán Khi đời sống xã hội ngày càng bộn bề, đa chiều thì những suy nghĩ và lối sống tiêu cực của con người, đồng nhu cầu nhận thức, khái quát càng trở nên bức bách đối thời thức tỉnh và đề cao giá trị đạo đức xã hội tình người với nhà văn. Đặc biệt, sau năm 1975, hiện thực cuộc sống - thứ cao quý hơn bất kì vật chất nào khác. có nhiều thay đổi, nhà văn cũng nỗ lực để nắm bắt những Thời gian nghệ thuật trong Không có vua đổi thay ấy. Do đó, nhu cầu thể hiện những suy ngẫm, Thời gian nghệ thuật là “hình thức nội tại của hình chiêm nghiệm riêng là điều thường thấy ở những nhà văn tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Cũng giai đoạn này. Vì vậy, bằng cách viết lạnh lùng, chân thật, như không gian nghệ thuật, sự miêu tả, trần thuật trong khách quan, Nguyễn Huy Thiệp bộc bạch những suy văn học bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất ngẫm của mình về cuộc sống. định trong thời gian. Và cái được trần thuật bao giờ cũng Trong truyện ngắn Không có vua, với cách trần thuật diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần lạnh lùng, khách quan đã làm cho thế giới được miêu tả thuật” [1; tr 322]. Thời gian nghệ thuật gắn liền với quan trong tác phẩm sống động như chính cuộc sống ngoài đời niệm của nhà văn. Vì thế, thời gian nghệ thuật có nhiều thực. Con người, cảnh vật hiện lên chân thật, gần gũi. Tất phương thức tổ chức như dồn nén, kéo giãn, phân cách, cả những thứ giản dị, đời thường ấy bước vào trang hòa trộn, đồng hiện theo trình tự tuyến tính, gấp khúc, truyện hồn nhiên nhưng gợi cho người đọc bao suy nghĩ, đảo lộn... trăn trở. Cuộc sống ấy, từ một gia đình như bao gia đình Văn học thời kì đổi mới đã mở rộng quan niệm về khác mà suy ra hình ảnh của cả xã hội. Nhà văn kể câu thời gian Thời gian vừa là khách thể, vừa là chủ thể, vừa chuyện bằng một giọng quá khách quan, quá lạnh lùng, là công cụ phản ánh của văn học. Chính vì thế, văn xuôi tới mức dửng dưng, thờ ơ. Nhưng chính cái vẻ lạnh nhạt Việt Nam giai đoạn này thường phản ánh đời sống của ấy lại tô đậm thêm tính chất phê phán với những vấn đề con người trong sự cọ xát và trôi nhanh của thời gian. mà ông đặt ra trong tác phẩm của mình. Chính cảm hứng Nhưng hiện thực đời sống nhiều chiều phức tạp nên các phê phán, phản tỉnh này khiến câu chuyện của Nguyễn nhà văn đã chọn cho mình một phương thức tổ chức thời Huy Thiệp trở nên có chiều sâu, có tính triết lí. gian nghệ thuật phù hợp để phản ánh được nhiều hơn hiện thực đa chiều. Không gian, thời gian trong truyện ngắn Không có Thời gian trong truyện ngắn Không có vua là thời vua của Nguyễn Huy Thiệp gian của những buổi sáng, ngày giỗ, buổi chiều, ngày tết, Không gian nghệ thuật trong Không có vua buổi tối, ngày thường. Mỗi một khoảnh khắc thời gian Không gian nghệ thuật “là hình thức bên trong của đều ghi lại những cuộc cãi cọ, giằng co, đối chấp đến ngột hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Sự ngạt của những thành viên trong gia đình. Theo đó, miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất chúng ta có cảm nhận, Nguyễn Huy Thiệp nhân thể moi phát từ một điểm nhìn diễn ra trong trường nhìn nhất móc ra đủ các loại bệnh tật của cái gia đình bình thường định... Không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu này. Nào là cái lối sống không tôn ti, trật tự, không có trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng phép tắc, không đạo đức; cái loại người đê tiện, xấu xa, trưng, mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cái tật xu nịnh cấp trên; cái tục thờ cúng truyền thống cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học” [1; tr đang ngày càng mai một... Tất tần tật bằng ấy thứ nhồi 160-161]. Không gian trong văn học có nét đặc thù riêng, nhét trong mấy ngày sinh hoạt của gia đình này. đa dạng nhiều chiều không gian thực, không gian siêu Trong những khoảng thời gian ấy, Nguyễn Huy thực, không gian vật lí, không gian tâm tưởng... Thiệp dường như dừng lại lâu nhất ở thời gian ngày tết 37 VJE Tạp chí Giáo dục, Số 455 Kì 1 - 6/2019, tr 35-38 mặc dù mọi người trong gia đình đều cảm giác “Ngày tết [2] Nguyễn Thị Bình 2007. Văn xuôi Việt Nam 1975- trôi nhanh”. Đây là khoảnh khắc yên bình nhất của gia 1995 - Những đổi mới cơ bản. NXB Giáo dục. đình. Dẫu có sự tị nạnh, gièm pha của Khảm trong cách [3] Trương Đăng Dung 2001. Những vấn đề lí luận và bố quan tâm Tốn và chị Sinh thì cũng không làm mất đi lịch sử văn học. NXB Khoa học xã hội. cái không khí ấm cúng ấy. Phần lớn thành viên trong gia [4] Nguyễn Huy Thiệp 2003. Tập truyện ngắn. NXB đình đều phấn khởi chuẩn bị cho ngày tết. Cũng chính Văn học. thời gian này, Nguyễn Huy Thiệp đã giúp người đọc nhận ra những đức tính tốt đẹp của những người vốn cộc [5] Nguyễn Khắc Sính 2006. Phong cách thời đại nhìn cằn, thô lỗ, bỉ ổi ngày trước nay lại trở nên đáng yêu. Lão từ một thể loại văn học. NXB Văn học. Kiền rút tiền tiết kiệm ngoài việc mua quà cho Tốn và [6] Trần Đình Sử 1998. Giáo trình dẫn luận thi pháp Sinh còn lại giao cả cho Cấn - người quản lí chi tiêu của học. NXB Giáo dục. gia đình. Trong ngày tết sáng mồng một, lão cùng vợ [7] Trần Đình Sử 2015. Tự sự học - Một số vấn đề lí chồng Cấn trang phục chỉnh tề đi chúc tết hàng xóm. luận và lịch sử tập 2. NXB Đại học Sư phạm. Khiêm cục mịch, lạnh lùng nhưng lại biết cách cư xử, [8] Trần Đình Sử 2001. Những công trình thi pháp học trân quý chị dâu và em út trong đêm giao thừa, khiến Sinh tập 1 NXB Giáo dục. cảm động “rớm nước mắt”. Và phải chăng chính những giờ phút hạnh phúc này đã góp phần xóa đi những nhục [9] Trần Đình Sử 2005. Những công trình lí luận và nhằn, tủi khổ để họ dù có nhận ra cuộc sống ở gia đình phê bình văn học tập 2. NXB Giáo dục. này là khổ “Nhổ chứ. Nhục lắm. Vừa đau đớn, vừa chua [10] Trần Ngọc Vương 1999. Văn học Việt Nam dòng xót”, nhưng “thương lắm!”. riêng giữa nguồn chung. NXB Đại học Quốc gia Hà 3. Kết luận Nội. Qua việc nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Không có vua của Nguyễn Huy Thiệp, có thể rút CÁC HƯỚNG TIẾP CẬN TRONG QUẢN LÍ... ra được những điểm đáng chú ý như điểm nhìn trần Tiếp theo trang 23 thuật là yếu tố trung tâm của lí thuyết tự sự. Nguyễn Huy Thiệp đã vận dụng khéo léo điểm nhìn bên ngoài với dạng thức người KC ngôi thứ ba. Đây có thể xem là sự [3] Nguyễn Đức Chính chủ biên, 2015. Quản lí chất thành công của tác giả trong việc khái quát hiện thực đa lượng trong giáo dục. NXB Giáo dục Việt Nam. dạng nhiều chiều. Ngoài ra, việc sử dụng ngôn ngữ đối [4] Trần Kiểm 2016. Quản lí và lãnh đạo nhà trường thoại và giọng điệu trần thuật lạnh lùng, dửng dưng, hiệu quả. NXB Đại học Sư phạm. khách quan cũng là một trong những yếu tố góp phần [5] Nguyễn Cảnh Toàn - Lê Hải Yến 2012. Xã hội học làm nên sự thành công của tác giả; thể hiện cái nhìn của tập - học tập suốt đời và các kĩ năng tự học. NXB nhà văn về cuộc sống và xã hội sâu sắc, gợi cho người Dân trí. đọc sự suy ngẫm, đánh thức nhận thức của con người. [6] Trần Khánh Đức 2010. Giáo dục và phát triển Đặc biệt, việc tổ chức thời gian và không gian nghệ thuật nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI. NXB Giáo dục cũng là yếu tố tích cực làm nên sự thành công của tác Việt Nam. phẩm. Trong truyện ngắn Không có vua, Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng thời gian và không gian thực khiến [7] Harold Kootz - Cyriodonnell - Heinz Weihrich cho con người, cảnh vật hiện lên chân thật, gần gũi. Tất 1997. Những vấn đề cốt yếu về quản lí. NXB Khoa cả những thứ giản dị, đời thường ấy lại gợi cho người học kĩ thuật. đọc bao suy nghĩ, trăn trở. Chính những thành công trên [8] Nguyễn Khắc Hùng 2010. Giáo dục thường xuyên đã góp phần làm nên tính hiện đại của truyện ngắn trong xã hội học tập ở Việt Nam. NXB Đại học Quốc Không có vua, đồng thời góp phần khẳng định sự xuất gia TP. Hồ Chí Minh. hiện của Nguyễn Huy Thiệp có ý nghĩa lớn đối với sự [9] Phan Văn Kha - Phạm Phương Tâm 2016. Thực đổi mới của văn học dân tộc. Và đây cũng là những định trạng quản lí đào tạo từ xa trình độ đại học vùng hướng giúp sinh viên tiếp nhận tác phẩm một cách hệ Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Giáo dục, thống dưới góc nhìn tự sự học. số đặc biệt tháng 12; tr 52-55. [10] Phan Văn Kha - Phạm Phương Tâm 2016. Mô hình Tài liệu tham khảo quản lí đào tạo từ xa đáp ứng nhu cầu nhân lực trình [1] Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi độ đại học. Tạp chí Khoa học Giáo dục, Viện Khoa 2009. Từ điển thuật ngữ văn học. NXB Giáo dục. học Giáo dục Việt Nam, số 134, tr 13-18. 38 Sau năm 1975, văn học Việt Nam vận động theo hai hướng khác nhau, một hướng với các nhà văn Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn, Chu Lai, Xuân Trình, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Duy, Dương Thu Hương, Lê Lựu…văn học đổi mới theo khuynh hướng phản sử thi; và Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Hưng…là những nhà văn, nhà thơ đầu tiên đưa văn học nước nhà đổi mới theo một hướng khác, hướng thứ hai, có thể gọi là hậu hiện đại. Và như trên đã trình bày, Chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam chỉ mang tính chất là yếu tố của hậu hiện đại. Trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp cũng thế, yếu tố hậu hiện đại biểu hiện thông qua tâm trạng và cảm quan hậu hiện đại của tác giả. Xin phân tích một vài đặc điểm trong truyện ngắn Không có vua của Nguyễn Huy Thiệp để làm rõ điều này. Truyện Không có vua là truyện ngắn kể về cuộc sống trong gia đình lão Kiền. Cuộc sống ấy xoay quanh lão Kiền - một thợ chữa xe đạp; con trai đầu là Cấn - thợ hớt tóc cùng vợ mới cưới là Sinh; tiếp đến là Đoài - một công chức ngành giáo dục; Khiêm - một nhân viên lò mổ; Khảm - sinh viên đại học và Tốn - em út, bị bệnh thần kinh. Thông qua những sự việc xảy ra và cách nhân vật cư xử với nhau hằng ngày, tác giả nhằm gửi đến người đọc những thông điệp về sự tan vỡ của mối quan hệ trong gia đình và sự biến chất của đạo đức con người dưới sự biến động của xã hội. Tuy cùng sử dụng một chất liệu với các nhà văn cùng thời như những phương diện tạo nên mặt tối trong đời sống con người cá nhân hoặc trạng thái phong hóa xã hội, nhưng Nguyễn Huy Thiệp lại kể cho chúng ta những câu chuyện hoàn toàn khác hẳn. Đó là những câu chuyện với nhân vật trong Không có vua, một thế giới không hề có sự xuất hiện của nhân vật chính diện, một thế giới như các nhà nghiên cứu từng gọi là “cuộc đời vô nghĩa” trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Một giọng điệu kể khinh bạc, lạnh lùng, thậm chí tàn nhẫn phù hợp với câu chuyện tác giả đưa đến cho người đọc, câu chuyện của lão Kiền, Cấn, Đoài, Khâm…chạy theo những tham vọng phù du của đồng tiền; của cô Sinh lầm lũi chấp nhận cuộc đời vô vị bên người chồng thô bạo; của Khiêm với công việc giết mổ lợn, ngày ngày lấy trộm bộ lòng và hai cân thịt; của Tốn không chịu được bẩn, suốt ngày chỉ biết lau nhà, giặt giũ. Ta có cảm giác các nhân vật không hề nhìn về cuộc sống tương lai phía trước, chỉ là những mưu toan, tính toán chi ly cho miếng ăn hàng ngày, bởi họ quan niệm “có thực mới vực được đạo”. Có chăng thì chỉ là Đoài và Khảm, nhưng tương lai của họ là luồn cúi, nhờ vả để được tiến thân; là lấy cô Mỹ Trinh “con ông Ánh sáng ban ngày” để được hưởng của hồi môn. Những con người chỉ biết cặm cụi phục vụ cho cuộc sống vô nghĩa của mình, cho những tính toán nhỏ nhen, tầm thường. Sự lên ngôi của đồng tiền đã kéo theo nhiều sự đổ vỡ trong mối quan hệ gia đình. Ta không hề bắt gặp trong thế giới ấy đạo lý của gia đình. Tất cả các trật tự trong gia đình bị phá vỡ, xáo trộn con mỉa mai cha “một miếng vá xăm đáng một chục nhưng tương lên ba chục thì có đức đấy”; cha chửi rủa con; em chồng chọc ghẹo, đòi ngủ với chị dâu; cha chồng nhìn trộm con dâu tắm; em đánh anh…Còn nhiều thứ nữa khiến ta không dám khẳng định đây là một gia đình. Trạng thái nhân thế thì đảo điên,thiếu vắng chuẩn mực giá trị, điểm tựa tinh thần…có lẽ vì thế mà thế giới ấy trở nên vô nghĩa. Thế giới vô nghĩa trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp gần với cái thế giới bơ vơ, rối loạn, đảo lộn của Chủ nghĩa hậu hiện đại, con người không có niềm tin vào giá trị truyền thống và cuộc đời. Và kết thúc mỗi truyện ngắn, tác giả đưa cho người đọc một sự thật trớ trêu hoặc sự thất bại ê chề; điều này gần với kiểu tác giả hậu hiện đại-tân cổ điển. Chính điều này tạo nên trong lòng đọc giả tâm trạng hoài nghi đang tồn tại trong cuộc sống, vậy đâu là ý nghĩa của cuộc sống? Bên cạnh đó các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp còn phảng phất tư duy nghệ thuật của hậu hiện đại. Đó là nguyên tắc lạ hóa theo kiểu câu đố, một nền tảng cấu trúc của các trào lưu, trường phái hậu hiện đại. Câu đố chính là logic của cảm giác, tạo cho người nghe một cảm giác tươi rói như lần đầu được nghe bằng cách lạ hóa các khái niệm, tên gọi thân thuộc hàng ngày. Nguyên tắc lạ hóa ở đây chính là điểm nhìn mới mẻ của nhà văn về con người và đời sống. Tác giả khai thác tính cách của nhân vật đối lập với vai trò trong xã hội; tức là không dựa vào hình dáng, công việc mà khai thác trong những mối quan hệ của các nhân vật với nhau. Và tính cách ấy đối lập với nghề nhiệp của họ. Chẳng hạn, nhân vật Đoài-công chức ngành giáo dục, một nhân vật có học thức nhất trong gia đình lại được nhớ đến như kẻ đê tiện và xấu xa nhất. Lão Kiền không được miêu tả với việc sửa chữa xe đạp mà là bắc ghế nhìn con dâu khỏa thân trong phòng tắm. Nhưng Khiêm-nhân viên lò mổ, một gã đồ tể như “tacdang” giết lợn không gớm tay lại để dấu ấn nhờ hành động đứng ra bảo vệ Tốn và Sinh trước sự đối xử tệ bạc của gia đình. Và Tốn-cậu bé bệnh thần kinh, một nhân vật ngây ngô, khờ khạo, bệnh tật nhất trong truyện lại là người giàu tình yêu thương và có sự sáng suốt nhất bởi cậu nhận ra hiện trạng “không có vua” trong gia đình mình. Mỗi tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp là một trò diễn của câu chữ. Trò diễn ngôn từ ấy được tạo nên bằng cách tạo sự rỗng nghĩa trong câu chữ và người đọc sẽ có những cách hiểu và cảm nhận khác nhau, tùy theo trình độ tư duy và cách tiếp cận. Trong truyện ngắn Không có vua, trò diễn này được thể hiện qua nhan đề, sườn truyện và phát ngôn tư tưởng của tác giả. Về nhan đề, “Không có vua” đặt trong bối cảnh của diễn biến truyện có thể được hiểu như sau “Vua” ở đây không chỉ là người có vai vế lớn nhất mà còn thể hiện trật tự cao thấp trong đạo lý cư xử của con người với nhau. Vua sẽ là người được tôn trọng nhất, kính nể nhất mà mọi người phía dưới đều sợ hãi; đồng thời, vua là người có trách nhiệm nặng nề nhất để lãnh đạo trật tự trong xã hội. Đối chiếu trong một gia đình thì người được mang vai trò “vua” ấy, được kính nể nhất và phải gánh vác trách nhiệm nặng nề nhất là người cha. Và trật tự trong gia đình ấy sẽ được đảm bảo theo tôn ti trật tự, vai vế. Ngay từ nhan đề tác phẩm, “Không có vua” tức là tác giả đã khẳng định mọi quyền hạn và trách nhiệm của người cao nhất trong gia đình đã bị bác bỏ và cái trật tự của xã hội nhỏ bé ấy hoàn toàn bị phá vỡ. Và gia đình của lão Kiền đã rơi vào hoàn cảnh “không vua” như thế. Mà “vua” đối với gia đình lão chính là đồng tiền. Về sườn truyện, cấu trúc của tác phẩm đi theo thứ tự các phần Gia cảnh-Buổi sáng-Ngày giỗ-Buổi chiều-Ngày tết- Ngày thường. Kết cấu tự sự đã trở nên mờ nhạt, khó nhận ra logic nhân quả theo trật tự thời gian. Kết cấu truyền thống đã bị phá vỡ, phân thành những mảnh nhỏ, mang lại cảm giác như một sự lắp ghép các sự kiện một cách ngẫu nhiên của ý thức. Đồng thời, truyện của Nguyễn Huy Thiệp phá vỡ quan niệm về sự xác tín trong lời phát ngôn của nhân vật. Lời nhân vật có khi trái ngược hoàn toàn với tư tưởng tác giả gửi gắm. Thế giới trong Không có vua với những nhân vật hành động và nói năng đầy vô nghĩa; qua đó nhà văn đưa đến cho người đọc sự trăn trở về ý nghĩ cuộc sống trên hành trình đi tìm hạnh phúc của con người. Ta thấy hầu như các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp đều mang một tâm trạng và cảm quan hậu hiện đại như thế. Nó góp phần hình thành nên một xu hướng văn học đang phát triển hiện nay xu hướng tìm tòi cách tân theo hậu hiện đại. Xem thêm Yếu tố hậu hiện đại trong "Tướng về hưu" - Nguyễn Huy Thiệp Yếu tố hậu hiện đại trong "Vàng lửa" - Nguyễn Huy Thiệp

không có vua nguyễn huy thiệp