Thơ Nguyễn Trọng Tạo Thứ Ba, 15 tháng 12, 2015 1999 TỰA Thế giới hiện đại ưa chuộng một gã người có bộ mặt bông đùa dễ thương, gọi là Homo ludus, Người Ham Chơi. Khác với những tiền bối của nó là Người Làm (Homo fabien) và Người Biết (Homo sapien) vốn đã có mặt
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng: Cứ làm đi, có hiệu quả, dân tin. TTO - Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phân tích 3 vế trong học tập và làm theo Bác, đó là tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn
Mua bán nhà Đường Nguyễn Trọng Tuyển, Quận Tân Bình chính chủ, giá tốt với nhiều sự lựa chọn. Nhà riêng, nhà cấp 4, nhà cao tầng, nhà trong ngõ hẻm Cần bán tại Đường Nguyễn Trọng Tuyển đa dạng về diện tích, thuận tiện giao thông. Bán nhà vị trí đẹp, gần trung tâm, chợ, trường học, bệnh viện khu
Thi hào Nguyễn Du từng viết Văn tế thập loại chúng sinh, liệt kê 10 loại cô hồn, cảnh sống thê lương và thỉnh cầu phép Phật cho họ được giải thoát. Siêu năng lực Truyền cảm hứng làm từ thiện cho người còn sống. Ngày cúng Ngày 2 và 16 hằng tháng, ngày 15 tháng 7. Phật Chân dung KOL 500 triệu followers. Nickname
Sự thật về bài thơ "Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư. Sau khi phê phán Lưu Trọng Lư lấy thơ Nhật Bản, Nguyễn Vĩ đã đưa ra bằng cớ là bản dịch của mình, nhưng thực ra, Nguyễn Vĩ đâu có dịch, ông lấy luôn bài thơ Lưu Trọng Lư tráo vào rồi kêu ầm lên là bắt được
1Tmz. Bìa sách Thơ cần thiết cho ai. NTT Sau cuốn ”Thơ đến từ đâu”, Nguyễn Đức Tùng lại cho ra mắt tại Việt Nam cuốn ”Thơ cần thiết cho ai”. Đây là 2 cuốn sách quý cho những người yêu thơ, người làm thơ và người nghiên cứu thơ. Tháng 6 vừa qua, Nguyễn Đức Tùng cùng vợ con từ Canada về nước tổ chức ra mắt sách tại Huế, và được sự đón nhận nồng nhiệt của độc giả. Sách do Nxb Hội Nhà Văn và Nhã Nam xuất bản. Dưới đây là cảm nhận của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và nhà thơ Nguyễn Quang Thiều về cuốn ”Thơ cần thiết cho ai”. NGUYỄN TRỌNG TẠO THƠ CẦN CHO AI HAY LÀ AI CẦN THƠ Người ta nói, người đọc thơ đang ngày càng ít đi. Nhưng các nhà thơ thì hình như ngày càng nhiều, và tất nhiên, những tập thơ cũng ngày càng gia tăng. Người ta nói, thơ càng ngày càng khó đọc khó hiểu. Nhưng các nhà thơ thì hình như không an bài với các kiểu thơ cũ đã trở thành mẫu mực; họ muốn vượt thoát, muốn khám phá sáng tạo ra sự bất thường của ngôn ngữ, thậm chí là tạo ra những “ma trận ngôn ngữ” thách đố người đọc. Người ta nói, thơ là sở hữu của mỗi người. Nhưng người ta cũng nói, thơ không của riêng ai. Và tôi nghĩ, khi người ta yêu, người ta đã là một thi sĩ, cho dù họ không diễn giải thành thơ. Bởi thế, họ cần thơ để chia sẻ nỗi lòng, để hát lên vẻ đẹp bất tận của tâm hồn hay xua đi sự tuyệt vọng tận cùng của ngôi sao số mệnh. Còn Nguyễn Đức Tùng thì cho rằng “Thơ giúp một người sống đến cùng các giới hạn của cuộc đời. Di chuyển giữa ánh sáng và bóng tối, giữa thành công và thất bại, anh ta bắt đầu nhận ra những mơ ước của mình chỉ là ký ức đến từ tương lai”. Chính vì thế mà anh đã đi tìm những bài thơ, những nhà thơ để soi sáng hồn mình. Khi Nguyễn Đức Tùng đặt ra câu hỏi “Thơ cần thiết cho ai” cùng có nghĩa trước hết là thơ cần cho chính anh, một bác sĩ, một nhà thơ, một nhà khám phá thơ. Voznexenxky viết thơ sinh ra vì thơ, dù tôi không “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Với cuốn sách “Thơ cần thiết cho ai”, Nguyễn Đức Tùng đã lý giải đến tận cùng cả hai điều “trái khoáy” đó khi anh đi sâu vào tận đáy của những bài thơ và tác giả của nó. Mười bài thơ và hơn thế của mười nhà thơ mà anh lựa chọn không phải là ngẫu nhiên, mà trước hết là từ nó mà anh chiêm nghiệm ra các vẻ đẹp của nghệ thuật tâm hồn với những trạng huống hết sức bất ngờ trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ. Anh như soi kính lúp vào các mạch nguồn của chữ để thấy các dây tơ li ti nối liền cảm xúc. Lại có lúc phải nhắm mắt lại cho tâm hồn trôi theo những ẩn dụ xa xăm va chạm với hư vô nơi tư tưởng phát sáng. Một lối bình thơ đa phức, kết hợp cảnh ngộ và tiểu sử, hồi ức và hiện tại, trường phái và thi pháp, thực tiễn và kinh nghiệm, tự sự và nghị luận… với một văn phong nhẹ nhàng, thông minh và quyết đoán, nhằm làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu. Nhưng đôi khi ngòi bút nghị luận sắc sảo của anh bỗng trở nên mềm mại và gợi mở cho người đọc những cảm giác được tiếp tục sáng tạo cùng văn bản. Cái hay của cuốn sách này còn nằm trong sự lựa chọn đối tượng để phẩm bình. Anh chọn cả những nhà thơ mà ở Việt Nam chưa từng biết đến, nhưng các nhà thơ đó đều có những đóng góp to lớn cho nền thơ bản địa và thế giới 8 nhà thơ Mỹ và 2 nhà thơ Canada William Carlos Williams 1883-1963, Billy Collins 1941-, Mary Oliver 1935-, Leonard Cohen 1934-, Elizabeth Bishop 1911-1979, Robert Frost 1874-1963, Naomi Shihab Nye 1952-, William Stafford 1914-1993, Patrick Lane 1939-, Wallace Stevens 187-1955. Có nhà thơ trong sáng giản dị, có nhà thơ cầu kỳ phức tạp… và Nguyễn Đức Tùng đã “phẫu thuật” cơ thể tinh thần của họ và thơ họ nhằm làm sáng tỏ những đóng góp cho dòng chảy thi ca suốt hơn thế kỷ qua. Họ là điển hình thu nhỏ của các trường phái thơ trong nhiều thời kỳ của Mỹ và Bắc Mỹ với tính khác biệt không lẫn vào đâu được. “Đó là sự khác biệt giữa một bên là các nhà thơ tin rằng nhiệm vụ của họ là tìm cách tương thông với độc giả. Muốn được như thế, câu thơ phải trong sáng, người đọc có thể tiếp cận được. Một bên là những nhà thơ, đa số trẻ hơn, tin rằng bài thơ của họ có thể là ngôi nhà đóng kín cửa, ngôn ngữ của họ không nhất thiết dễ hiểu, khi người đọc thơ đến trước bài thơ, không có ai mặc đồng phục đợi ở cửa mời họ vào”. Những kiến thức đó bồi đắp cho dân trí thơ thêm cao dày phù sa màu mỡ. Là một nhà văn- bác sĩ Việt kiều ở Canada, Nguyễn Đức Tùng có điều kiện khám phá sâu sắc tâm lý sáng tạo của nhà thơ với kiến thức sâu rộng của mình. Vì anh đọc nhiều, đọc rộng và đọc sâu. Tôi đã từng theo anh vào một hiệu sách văn học to lớn ở thành phố Vancouver là nơi anh vẫn thường lui tới, và có khi ngồi cả buổi ở đấy với sách trước khi mua sách về. Anh đọc sách có khi quên cả bữa trưa, và tôi cũng đã bị đói cùng anh. Nhưng điều quan trọng, anh là một người viết. Anh từng thoát bỏ thơ có vần thuở ban đầu để tiếp cận với trường phái không vần hiện đại Tây-Mỹ với ngôn ngữ và thi ảnh Việt, tạo được dấu ấn trong làng thơ Việt hải ngoại, có tiếng vang về trong nước. Anh cũng đã từng làm một loạt cuộc phỏng vấn, trò chuyện với hàng chục nhà thơ Việt khắp nơi trên thế giới về cuộc đời và quan niệm thơ của họ và tập hợp lại thành cuốn sách dày “Thơ đến từ đâu” xuất bản ở trong nước như một hiện tượng văn học với cái nhìn cởi mở và đổi mới. Anh cũng viết riêng một cuốn sách về nhà thơ Du Tử Lê, và một cuốn song thoại với nhà thơ Trần Nhuận Minh. Đó không chỉ là tình yêu thơ đến cháy bỏng của Nguyễn Đức Tùng, mà còn cả một sự tích luỹ, trải nghiệm và tung phóng những ý tưởng nghệ thuật của bản thân anh. Với “Thơ cần thiết cho ai” xuất bản lần này, Nguyễn Đức Tùng, con người cật lực tận hiến cho thơ lại mang đến cho bạn đọc yêu thơ, cho các nhà thơ trong đó có tôi những trang viết đầy ý nghĩa mới mẻ và bổ ích. Nó không chỉ giải đáp câu hỏi “Thơ cần thiết cho ai” mà đọc nó, ta cũng có thể biết được, rồi ai cũng phải cần thơ. Vậy đó… * Nguyễn Quang Thiều Giọng Nói Vọng Ra Từ Bên Trong Bài Thơ Tập sách có tên Thơ cần thiết cho ai. Đơn giản là thi sỹ Nguyễn Đức Tùng đặt ra một câu hỏi và trả lời câu hỏi đó. Thông thường, tác giả của cuốn sách đặt một câu hỏi như thế thì sẽ dùng rất nhiều lý thuyết để giải quyết câu hỏi này. Trước khi bắt đầu đọc cuốn sách của thi sỹ Nguyễn Đức Tùng, tôi phải thú nhận rằng tôi đã mang đầy cảm giác ngại ngùng và một sự mệt mỏi mơ hồ bắt đầu len lỏi trong tôi. Tôi không phải là người đọc nhiều lý thuyết về thơ ca hay văn học nói chung với những vấn đề tương tự, nhưng tôi vẫn cảm thấy, với một người sáng tác như tôi có lẽ cũng không cần thiết phải đọc quá nhiều những cuốn sách lý thuyết cho dù nó uyên bác đến đâu khi đề cập đến những vấn đề như sứ mệnh của nhà thơ, thơ ca và chính trị, tính truyền thống và hiện đại hay hậu hiện đại…Nhưng sự thật cuốn sách của thi sỹ Nguyễn Đức Tùng đã thay đổi tôi. Nguyễn Đức Tùng đã trả lời câu hỏi “rất mệt” ấy bằng một cách trả lời thật thông minh, thuyết phục và rất quyến rũ. Sự thông minh, thuyết phục và quyến rũ này đã dẫn dụ tôi và kéo tôi đi hết con đường của ông. Tôi đã đọc hết cuốn sách và tôi thừa biết rằng mình có nhu cầu đọc lại cuốn sách này nhiều lần nữa. Nguyễn Đức Tùng quả là một “phù thủy”. Ông có khả năng điều kiển cảm xúc của tôi bằng cuốn sách này. Ông dẫn tôi đi hay trôi đi, hay cuốn tôi đi theo dòng chảy của ông và của bài thơ ông nói đến. Nhưng cái hành động dẫn đi hay cuốn đi này không phải để tôi chìm đắm vào đó mà để tôi nhận ra nó đang chuyển động và sẽ dẫn tôi đi tới đâu. Có một cảm giác mà tôi đã thử đi thử lại nhiều lần để tìm ra tính xác thực của cảm giác đó. Đó là tính xác thực của trạng thái tôi vừa mang cảm giác được chìm đắm vừa mang cảm giác nhận biết như tôi là nhân vật chính của bài thơ, là lịch sử của bài thơ và là tất cả những gì bài thơ đã thực hiện hay đã có. Có đôi lúc, tôi tin rằng tôi chính là một trong những gì làm ra bài thơ đó. Mỗi bài trong cuốn sách này không phải là là một văn bản độc lập về tiểu sử của một nhà thơ mà ông đề cập, không phải một văn bản độc lập về tính biểu tượng hay phép tu từ, không phải một văn bản độc lập ngợi ca tác giả và tác phẩm, không phải một văn bản độc lập về trường phái hay chủ nghĩa…mà chúng là những văn bản tổng hợp. Nói vậy cũng không đầy đủ và chưa thật chính xác. Tôi không tìm được thuật ngữ để bầy tỏ. Tôi xin dùng cách của một nhà thơ để nói về nó cho dù rất mơ hồ Cách xử lý trong các văn bản đó của Nguyễn Đức Tùng giống như người ta nói về một cánh đồng chứ không phải là đưa ra những mẫu phân tích về thổ nhưỡng hay khí hậu, nói về một cái cây trên đỉnh đồi trong bão gió chứ không phải lý thuyết về các thảm thực vật hay cấu trúc của rừng nhiệt đới, nói về một dòng sông chảy trong hoàng hôn đỏ thẫm chứ không phải nói về mực nước hay những biến động của dòng chảy bị tác động bởi môi trường…Nghĩa là ông dựng lên một đời sống sống động của cá thể bài thơ đó với toàn bộ những gì làm ra nó. Những mối liên hệ từ bài thơ tới tác giả và lịch sử đời sống của nhà thơ cho dù đôi lúc thật ít ỏi, ngắn gọn nhưng đã hiện lên những chỉ dẫn bí mật của những gì tạo lên bài thơ. Và tôi có một chút so sánh dù biết rằng có vẻ hoặc rất thiếu tính khoa học về ông, là ông là một bác sỹ và ông hiểu toàn bộ hệ thống của những mạch máu và những mô và đặc biệt của AND làm lên một cơ thể sống. Cho đến lúc này, với một sự suy nghĩ có ý thức và cẩn trọng, tôi muốn nói thi sỹ Nguyễn Đức Tùng nhiều khi không phải là ông luận bàn hay lý giải bài thơ đó mà thực sự ông đã sáng tạo ra một bài thơ khác. Để thừa nhận nhận định này của tôi, bạn phải đọc những văn bản của thi sỹ Nguyễn Đức Tùng với một cách thức hoàn toàn khác. Bài thơ khác đó của ông không phải là một văn bản tương đồng ở bất cứ một hình thức nào, nó là một cá thể độc lập nhưng lại luôn làm cho chúng ta nhận ra những nơi khuất ẩn của bài thơ kia. Khi còn rất trẻ, tôi đã luôn nghĩ rằng để đi vào được giấc mơ của kẻ khác thì chúng ta phải có một phương tiện duy nhất đưa chúng ta lọt vào giấc mơ của kẻ đó. Phương tiện đó chỉ có thể là giấc mơ của chính ta. Không ít những nhà phê bình văn học thất bại trong việc tiếp cận những văn bản cụ thể vì họ đã không có cái phương tiện kia. Nguyễn Đức Tùng là một thi sỹ và ông đã được trang bị phương tiện quan trọng nhất. Chính vậy mà nhiều lúc tôi mang cảm giác ông đang ở bên trong bài thơ và nói vọng ra cho chúng ta nghe trong đó có gì và như thế nào. Thi sỹ Nguyễn Đức Tùng thường hay xử dụng hai cách khi tiếp cận một bài thơ Toàn thể và chi tiết cận cảnh. Ông cận cảnh rồi phóng to một từ, một âm tiết, một hình ảnh, một nhịp điệu….của bài thơ khi thì chụp toàn bộ bài thơ và thu nhỏ lại. Phương pháp cận cảnh và phóng đại giống như khi tôi được xem các bức ảnh nghệ thuật người ta chụp những tế bào nhỏ nhất. Chúng thực sự đẹp và đôi lúc làm ta bàng hoàng. Tôi cũng được xem những bức ảnh chụp toàn cảnh trái đất hay các hành tinh nào đó và in ra trong một bức ảnh cỡ 9 x 12cm và tôi cũng lại thấy chúng đẹp mê hồn. Phương pháp cận cảnh của Nguyễn Đức Tùng cho tôi nhận thấy trong một bài thơ có rất nhiều bài thơ. Mỗi bài thơ đó vừa độc lập vừa gắn kết với bài thơ “mẹ” của nó. Nó không phải là một chi tiết hay một hình ảnh của bài thơ “mẹ” mà là những bài thơ độc lập tạo lên một bài thơ có sức chứa rộng hơn về mặt không gian trong nhiều chiều của không gian đó. Có một vài bài thơ của một vài nhà thơ mà Nguyễn Đức Tùng dịch và nói về nó là những bài thơ mà tôi cũng đã dịch và cảm nhận chúng. Và sự thật là tôi có một cách dịch khác và có một cái nhìn khác về những bài thơ đó. Nhưng tôi lại hoàn toàn thừa nhận một cách thú vị trong tinh thần bị thuyết phục cách dịch và cách cảm nhận bài thơ đó của Nguyễn Đức Tùng. Vì sao vậy ? Vì trước hết mỗi bài thơ là một đơn vị đa văn bản, thứ hai ta nhìn thấy một ô cửa mới mà thi sỹ Nguyễn Đức Tùng mở ra trong những bức tường đôi khi câm lặng của ngôi nhà bài thơ ấy mà ta thường nghĩ trước đó rằng không gian ngôi nhà đã hoàn toàn bị giới hạn hay kết thúc bởi những bức tường. Và điều thứ ba là thi sỹ Nguyễn Đức Tùng đã làm những gì ông làm với bài thơ đó là hợp lý, chính xác, công bằng và quyến rũ. Và điều cuối cùng trong bài viết nhỏ này, tôi muốn tuyên bố Nguyễn Đức Tùng là một nhà thơ ở bên trong và bên ngoài nhà thơ mà ông đề cập và ông đã viết một bài thơ ở bên trong và ở bên ngoài bài thơ của những nhà thơ đó. Filed under Báo chí, Làng văn nghệ, Phê bình, Sự kiện Tagged NGUYỄN QUANG THIỀU, NGUYỄN TRỌNG TẠO, NGUYỄN ĐỨC TÙNG
Ông Nguyễn Trọng Thông là một doanh nhân, Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam sinh ngày 12/12/1953 tại Hà Tĩnh. Ông hiện là Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Hà Đô. Ông đã vinh dự được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất năm 2015. Ông Nguyễn Trọng Thông – Chủ tịch CTCP Tập đoàn Hà Đô Xuất thân từ gia đình trí thức tại Tỉnh Hà Tĩnh, ông Nguyễn Trọng Thông đã xung phong lên đường nhập ngũ sau khi tốt nghiệp trường Đại học xây dựng năm 1979, Ông trở thành Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, Trưởng Ban Doanh Trại – Viện Khoa học kỹ thuật Quân sự, Bộ Quốc Phòng. Theo chủ trương của Bộ Quốc Phòng và luôn mong muốn phát huy tiềm năng của người lính trong thời bình, năm 1990, ông cùng một số cán bộ chiến sỹ thành lập Công ty Hà Đô và đã chèo lái con thuyền Hà Đô không ngừng lớn mạnh. Là người đặt nền móng đầu tiên xây dựng nên Tập đoàn Hà Đô, ông đã và đang tiếp tục có những đóng góp lớn lao cho sự phát triển của Tập đoàn, từ ý tưởng cho tới chiến lược đầu tư, cũng như dẫn dắt hoạt động kinh doanh, ông đã được phong hàm Đại tá. Đến nay ông đã có 30 năm làm việc và cống hiến cho sự lớn mạnh của Tập đoàn Hà Đô. Chủ tịch tập đoàn Hà Đô Nguyễn Trọng Thông được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhấtnăm 2015 Tính đến ngày 30/11/2020, Chủ tịch Nguyễn Trọng Thông là người giàu thứ 72 trên sàn chứng khoán Việt Nam với khối tài sản hơn tỷ đồng do đang sở hữu cổ phiếu HDG. Ông hiện là cổ đông lớn nhất nắm 35,05% cổ phần Tập đoàn Hà Đô. Xem thêm Ông Nguyễn Văn Tô – Phó Chủ tịch Tập đoàn Hà Đô là ai? Ông Chu Tuấn Anh – Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Hà Đô là ai? Họ tên Nguyễn Trọng Thông Sinh ngày 12/12/1953 Số CMND 012398578 Quê quán Xã Thạch Tiến, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh Địa chỉ Số nhà 19/67/61, Trần Duy Hưng, Trung Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội Trình độ Kỹ sư Xây dựng – Đại học Xây dựng Gia đình Vợ Nguyễn Thị Thu Hà Con Nguyễn Trọng Minh, Nguyễn Trọng Thùy Vân, Nguyễn Trọng Vân Hà Đại tá, Chủ tịch Nguyễn Trọng Thông chia sẻ tại Lễ kỷ niệm ngày nhân sự Việt Nam Quá trình công tác Từ 1979 – 1989 Sĩ quan QĐND Việt Nam, Phó Ban, Trưởng phòng Hậu cần – Viện Kỹ thuật Quân sự – Bộ Quốc phòng. Từ 1989 – 2004 Sĩ quan QĐND Việt Nam, Kỹ sư xây dựng, Giám đốc Công ty Hà Đô – Bộ Quốc phòng Từ 2005 – 2006 Đại tá QĐND Việt Nam- Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc CTCP Tập đoàn Hà Đô Năm 2007 – nay Đại tá QĐND Việt Nam – Chủ tịch HĐQT CTCP Tập đoàn Hà Đô Đại tá Nguyễn Trọng Thông và Thiếu tướng Phạm Sơn Dương đại diện lãnh đạo chỉ huy Viện KH – CN Quân sự Các chức vụ đang nắm giữ Đại tá Quận đội Nhân dân Việt Nam Chủ tịch HĐQT CTCP Tập đoàn Hà Đô Chủ tịch HĐQT CTCP Tập đoàn Đầu tư An Lạc Chủ tịch HĐQT CTCP Hà Đô 1 Chủ tịch HĐQT CTCP Hà Đô 2 Chủ tịch HĐQT CTCP Hà Đô 3 Chủ tịch HĐQT CTCP Hà Đô 4 Đại tá Nguyễn Trọng Thông tặng hoa chúc mừng Thượng tá Nguyễn Đức Toàn khi được thăng quân hàm Thượng tá Các giải thưởng danh giá đạt được Huân chương Lao động hạng Nhất của Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2015; Huân chương Lao động hạng Nhất của Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2015 Huân chương lao động hạng ba của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam năm 2009; Bằng khen Thủ tướng Chính phủ năm 2007; Danh hiệu “Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu” năm 2007 của Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam; Danh hiệu Doanh nhân tiêu biểu Bộ Quốc Phòng năm 2007; Bằng khen vì có thành tích trong công tác, chính sách hậu phương quân đội của Bộ Quốc Phòng; Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và Mặt trận tổ quốc Việt Nam trao tặng danh hiệu “Nhà quản lý giỏi’’; Giải thưởng Biểu tượng vàng “Vì sự nghiệp Văn hoá Doanh nhân Việt Nam’’ “Thâm tình” giữa Tập đoàn Hà Đô và Đầu tư An Lạc Nợ của Tập đoàn Hà Đô đang tăng nhanh, cao gấp 3,4 lần vốn chủ sở hữu nhưng lại cho CTCP Tập đoàn Đầu tư An Lạc vay hàng trăm tỷ đồng. Tại thời điểm 30/6/2019, tổng nợ phải trả của Hà Đô Group tăng từ tỷ đồng lên tỷ đồng, cao gấp 3,4 lần vốn chủ sở hữu. Con số kể trên cho thấy, Hà Đô Group đã phải vay nợ rất nhiều để có tiền rót cho các dự án. Thế nhưng, doanh nghiệp này lại có cách cho vay khá khó hiểu. Trong đó, mối quan hệ nợ vay và các quan hệ khác với Công ty Cổ phần Tập đoàn Đầu tư An Lạc Công ty An Lạc là ví dụ. Ông Nguyễn Trọng Thông- Chủ tịch CTCP Tập đoàn Đầu tư An Lạc Tại thời điểm cuối năm 2018, Hà Đô Group không nắm giữ cổ phần tại Công ty An Lạc sau khi chuyển nhượng toàn bộ vốn cổ phần tại An Lạc có giá trị ghi sổ 12 tỷ đồng với giá 20,176 tỷ đồng. Do 12 tỷ đồng tương ứng 7% vốn nên giá trị ghi sổ của An Lạc là hơn 171 tỷ đồng. Công ty An Lạc có giá trị ghi sổ hơn 171 tỷ đồng nhưng Hà Đô từng cho An Lạc vay số tiền lớn hơn giá trị ghi sổ rất nhiều. Tại thời điểm 31/12/2018, khi Hà Đô Group đã bán xong cổ toàn bộ cổ phần của An Lạc, Hà Đô vẫn tồn tại khoản phải thu về cho vay ngắn hạn trị giá gần 229 tỷ đồng tại An Lạc. Điều đáng nói, các khoản vay này không có tài sản đảm bảo với lãi suất từ 4,5% tới 9,3%/năm. Cả gốc và lãi sẽ được trả vào ngày đáo hạn quy định tại từng thỏa thuận vay. Có thể thấy, điều kiện vay mà Hà Đô dành cho An Lạc là rất tốt. Chưa hết, cũng tại thời điểm 31/12/2018, Hà Đô có khoản phải thu về cho vay dài hạn tại An Lạc lên đến 100 tỷ đồng. Khoản vay này không tính lãi. Như vậy, sau khi Hà Đô thoái vốn khỏi An Lạc, An Lạc vẫn nợ Hà Đô gần 329 tỷ đồng. Trong khi giá trị ghi sổ của An Lạc là khoảng 171 tỷ đồng. Còn theo báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2019, tại thời điểm 30/6/2019, có khoản phải thu về cho vay dài hạn tại Công ty Cổ phần Đầu tư An Lạc trị giá 100 tỷ đồng. Không rõ An Lạc đã thanh toán khoản vay 229 tỷ đồng kể trên hay chưa vì Hà Đô không ghi rõ từng khoản vay mà chỉ thông báo có “phải thu khác” trong phần phải thu ngắn hạn trị giá 310 tỷ đồng. Công ty Cổ phần Tập đoàn Đầu tư An Lạc thành lập ngày 05/03/2002 với ngành nghề chính là “xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng”. Người đứng đầu công ty là ông Nguyễn Trọng Thông, ông Thông cũng là Chủ tịch HĐQT Công ty CP Tập đoàn Hà Đô. Chủ tịch Nguyễn Trọng Thông tại Đại hội cổ đông thường niên năm 2019 Tập đoàn Hà Đô Xem thêm Tổng quan về LSX – Sở giao dịch chứng khoán Lào Ông Phạm Văn Khương – Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Vingroup Ông Đinh Thành Lê – Thành viên HĐQT Thủ Đức House là ai? Nguyễn Đức Vinh là ai? – Tổng giám đốc VPBank là ai? Ông Vũ Quốc Thái – Tổng Giám đốc DHA Corp là ai?
Tác giả "Khúc hát sông quê" sống phiêu lãng, tự do tự tại, làm việc và cống hiến hết mình đến cuối đời. Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo qua đời ở tuổi 72 tại Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội. Trước đó một tuần, nhạc sĩ hôn mê sâu. Dù đã chuẩn bị tinh thần, nhiều người thân với ông như nhà văn Ngô Thảo, nhạc sĩ Giáng Son... không khỏi bàng hoàng khi hay tin. Sinh thời, ông được đồng nghiệp, bạn bè yêu quý bởi tính cách hào sảng, hài hước, tốt bụng. Nhà văn Ngô Thảo kể ông quen biết Nguyễn Trọng Tạo từ năm 1972, khi hai người cùng khoác áo lính. "Tổng thống thứ 21 của Pháp - ông Francois Mitterrand từng nói 'Phóng túng và lang bang là phẩm chất của người nghệ sĩ'. Nguyễn Trọng Tạo có cả hai tính cách ấy", Ngô Thảo nhận xét về người bạn thân thiết. Khi còn sống, ông yêu tự do, thích đi du lịch, kết giao, gặp gỡ bạn bè. Tùng Dương - người thể hiện thành công ca khúc Cỏ và mưa phổ từ thơ Nguyễn Trọng Tạo - kể anh quen biết ông từ nhỏ, do ông kết giao với bố anh. Thế nhưng Tùng Dương không có nhiều dịp gặp gỡ ông vì nhạc sĩ "nay đây mai đó". "Thỉnh thoảng, tôi gọi điện cho chú, lúc thấy chú ở Tây Nguyên, vài hôm sau đã ở TP HCM, rồi dăm bữa ngược lên miền núi phía Bắc. Tôi cảm nhận con người nhạc sĩ tràn ngập chất 'phủi', phóng khoáng. Đó là trái tim thích lãng du", ca sĩ nhớ lại. Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo hồi tháng 7 năm ngoái. Nguyễn Trọng Tạo là tâm điểm của mỗi cuộc gặp gỡ, cà kê của giới văn sĩ. Bạn bè nhận xét ông hóm hỉnh, ăn nói có duyên, không cầu kỳ, kiểu cách. "Bạn chí cốt của Nguyễn Trọng Tạo ở khắp tứ hải. Ai cũng mến tính cách giản dị, thuần phác của ông. Đi đến đâu, ông cũng tựa như một thỏi nam châm, hút lấy mọi người", nhà thơ Bình Nguyên Trang chia sẻ. Anh Thơ hát "Làng quan họ quê tôi" của nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo. Nguyễn Trọng Tạo từng xây hẳn một căn nhà sàn ở bãi giữa sông Hồng để cùng bạn bè đàm đạo. Ông không nghiện rượu nhưng thích ngồi nhâm nhi với anh em. Từ những cuộc nhậu, nhiều tác phẩm của ông được bạn bè "đưa ra ánh sáng". Nhạc sĩ vốn không khoa trương, ông viết nhiều bài từ vài chục năm trước nhưng không chịu ra mắt. "Bạn nhậu" phải giục lên giục xuống, ông mới tính đến chuyện thu âm. Trong mắt nhà thơ Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Trọng Tạo tốt bụng, nhiệt tình, hào phóng "Cậu ấy cũng rất tình cảm, quan tâm đến mọi người. Tạo coi gia đình bạn bè như người thân của mình". Không chỉ đối xử tốt với anh em cùng thời, nhạc sĩ được nhiều đàn em ngưỡng mộ. Nhà văn Ngô Thảo kể ông không ngại khó khăn, dành nhiều thời gian dìu dắt các nhà thơ trẻ, giúp họ chỉnh trang câu chữ, liên hệ nhà xuất bản, rồi thiết kế bìa, viết lời đề từ. Nguyễn Trọng Tạo làm tất cả những việc ấy từ tâm, không màng danh lợi. Ông cũng dành nhiều công sức, thời gian chấm thi, tham gia nhiều hoạt động ở các trường đại học vì muốn tiếp xúc với những tài năng chớm nở. Bản nhạc "Khúc hát sông quê" - một trong những ca khúc nổi tiếng nhất của Nguyễn Trọng Tạo. Ảnh Vnguitar. Tính tình hào sảng, phóng khoáng nhưng khi bắt tay vào công việc, ông nghiêm túc, khó tính. Nhà thơ Bình Nguyên Trang có dịp hợp tác với nhạc sĩ khi ông thực hiện liveshow Khúc hát sông quê hồi tháng 9/2017. "Nhiều người tưởng Nguyễn Trọng Tạo là người à uôm, xuề xoà, thực ra không phải. Động đến công việc, ông như biến thành người khác. Ông kỹ tính, cầu toàn, luôn muốn mọi việc chỉn chu, theo đúng ý mình. Khi ông quyết định điều gì, khó ai lay chuyển được", nhà thơ Bình Nguyên Trang chia sẻ. Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo và nhà thơ Thụy Kha phải. Làm bạn với nhau hơn 40 năm, từng cùng làm Tạp chí Âm nhạc, Tạp chí Thơ, nhà thơ Thuỵ Kha và nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo không tránh khỏi những lúc xích mích "Thế nhưng Tạo chẳng bao giờ để bụng, giận hờn ai lâu. Trong công việc, cậu ấy quyết liệt, không dễ dàng thoả hiệp", Nguyễn Thụy Kha nói. Ông cũng là người ôm đồm, đa mang. Ở tuổi ngoài 70, ông vẫn làm đủ thứ việc, từ biên tập, thiết kế bìa sách, dạy học, chấm thi âm nhạc, sáng tác thơ... Trước khi bị tai biến cuối năm 2017, hầu như đêm nào ông cũng thức đêm, thậm chí đến sáng để hoàn thành "tỷ thứ việc" như vậy. Sau cơn bạo bệnh, khi hồi phục, ông vẫn dành thời gian tập thể dục, làm thơ, soạn bài phê bình, viết nhạc. "Con người tôi là vậy. Sau khi lâm bệnh, nếu không đọc sách báo hoặc làm điều gì có ích, tôi sẽ thấy buồn và trống trải", ông tâm sự khi chuẩn bị liveshow ở quê nhà Nghệ An hồi năm ngoái. Phạm Phương Thảo hát "Đôi mắt đò ngang" của Nguyễn Trọng Tạo. Sống một mình nhiều năm nay trong căn chung cư ở khu đô thị Linh Đàm, Hà Nội, nhiều người nghĩ Nguyễn Trọng Tạo cô đơn lúc cuối đời. Thế nhưng ông hạnh phúc, hài lòng vì mình có được sự tự do. Trải qua hai lần đổ vỡ, tài sản lớn nhất ông giữ lại là ba người con hiểu chuyện, trưởng thành. Con gái lớn đã lập gia đình, sống ở tòa nhà cạnh bố nên thường xuyên thăm nom ông. Con trai thứ đã tốt nghiệp Tiến sĩ Kiến trúc ở Italy và đang làm việc ở Huế, con gái út học Tiến sĩ Kinh tế ở Italy. Cả ba đều coi bố là thần tượng nhưng không theo nghiệp ông vì sợ "con không bằng được cha". Nhà thơ Thuỵ Kha tiết lộ ngoài gia đình, bạn bè, không ít phụ nữ thầm thương trộm nhớ, ngưỡng mộ ông. Tuy nhiên, ông luôn ý tứ, chừng mực trong các mối quan hệ. Nguyễn Thuỵ Kha hồi tưởng "Khi Trọng Tạo còn sống, hai chúng tôi tâm đắc câu thơ của thi hào Nga - Boris Leonidovich Pasternak 'Cứ sống, cứ sống, cứ sống đến cùng'. Vậy nên cậu ấy rong ruổi khắp nơi, kết giao với nhiều người, làm đủ việc mình thích. Tôi vẫn nói với bạn 'Mày sống như thế là bằng ba cuộc đời của người khác rồi, chẳng có gì phải tiếc cả'. Bạn ra đi, tôi đau buồn nhưng không suy sụp, bi luỵ". Lễ nhập quan diễn ra lúc 8h30 ngày 9/1 tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Lễ viếng diễn ra từ 12h đến 13h30 cùng ngày. Linh cữu được đưa đi hỏa táng tại Đài hóa thân Hoàn vũ, Hà Nội lúc 14h. Tro hài nhạc sĩ sẽ được đưa về quê ở Nghệ An sau khi gia đình xây dựng xong khu tưởng niệm. Hà Thu
Selfomy Hỏi Đáp Học tập Ngữ văn Ngữ văn lớp 10 Nguyễn Trọng Chí là tên thật của nhà... 1 Câu trả lời Các câu hỏi liên quan 3 câu trả lời 190 lượt xem Nguyễn Kim Thành là tên thật của nhà thơ nào? đã hỏi 15 tháng 6, 2020 trong Ngữ văn lớp 10 bởi Bendy Cử nhân điểm Nguyễn Tường Vinh là tên thật của nhà văn nào? đã hỏi 15 tháng 6, 2020 trong Ngữ văn lớp 10 bởi Bendy Cử nhân điểm Quan niệm của cụ Nguyễn Du về mẫu anh hùng lí tưởng trong xã hội phong kiến được thể hiện như thế nào qua 14 câu thơ cuối bài "Chí khí anh hùng". đã hỏi 23 tháng 4, 2022 trong Ngữ văn lớp 10 bởi Khách 0 câu trả lời 220 lượt xem đã hỏi 28 tháng 3, 2021 trong Ngữ văn lớp 6 bởi Khách KhóÔng là nhà thơ và là nhân vật quan trọng trong triều đình nhà Nguyễn. Từ nhỏ đã nổi tiếng thần đồng, sau đó thi ... ; lập, Dương Mộng lập, Vinh Kiều tam thập thủ. Ông là ai? đã hỏi 19 tháng 10, 2019 trong Khác bởi ngoclinhbui Thạc sĩ điểm 0 câu trả lời 65 lượt xem Từ bài thơ "Chế học trò ngủ gật" của Nguyễn Khuyến, em có suy nghĩ gì về lòng khoan dung? Hãy trả lời bằng cách viết một bài văn nghị luận khoảng 500 chữ đã hỏi 3 tháng 1 trong Ngữ văn lớp 10 bởi Babyshort Thạc sĩ điểm MẸ VÀ QUẢ Những mùa quả mẹ tôi hái được Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng Những mùa quả lặn rồi lại mọc Như mặt trời, khi như mặt trăng Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên Còn những bí và bầu thì lớn xuống Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn Rỏ xuống ... cụm từ in đậm trong hai dòng cuối của bài thơ Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi - Mình vẫn còn một thứ quả non xanh . đã hỏi 5 tháng 2, 2021 trong Ngữ văn lớp 10 bởi PTG Tiến sĩ điểm 3 câu trả lời 136 lượt xem đã hỏi 5 tháng 2, 2021 trong Ngữ văn lớp 10 bởi PTG Tiến sĩ điểm
friendly-chat-wt-poet-ng-t-tao Một tuyển tập được đưa vào các thư viện “Nguyễn Trọng Tạo Thơ và Trường ca” là một tuyển tập dày 556 trang gồm 296 bài thơ, 2 trường ca và 4 bài viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Thụy Kha, nữ nhà thơ Mỹ Mary E. Croy, và trích lời nhận định của Nguyễn Đình Thi, Vũ là cuốn sách được nhà nước đặt hàng cho các thư viện trung ương và địa phương. Nội dung do tác giả tự chọn. Nói về chuyện nhà nước đặt hàng để in tác phẩm thơ cho mình, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho biết-Gọi là đặt hàng là vì nhà nước đưa một số tiền cho nhà xuất bản để họ in tập thơ của tôi và sau đó họ sẽ mua cho tất cả các thư viện trên toàn quốc. Hình như nhà nước họ dự định những tác giả mà họ cần phải lưu giữ lại, làm sao để bạn đọc có để mà theo dõi một hệ thống các tác giả trong nước. Tất nhiên số lượng không được lớn, với 64 tỉnh thành họ cũng chỉ đặt 500 nước đưa một số tiền cho nhà xuất bản để họ in tập thơ của tôi và sau đó họ sẽ mua cho tất cả các thư viện trên toàn quốc. Hình như nhà nước họ dự định những tác giả mà họ cần phải lưu giữ lại, làm sao để bạn đọc có để mà theo dõi một hệ thống các tác giả trong nước. -Xin anh cho biết với số sách giới hạn như vậy thì anh và Trung Tâm Văn Hóa Đông Tây đã làm gì để có thêm sách cho người đọc?-Nếu chỉ nhà nước đặt hàng thì không thể đủ cho công chúng người ta cần đọc. Rất nhiều người muốn có trong tay hay tủ sách gia đình của mình, có cuốn thơ của Nguyễn Trọng Tạo cho nên tôi và Trung tâm Văn Hóa Đông Tây bàn nhau in thêm. Tác giả bỏ tiền ra in thêm một số lượng khác để đáp ứng sự mong mỏi của người đọc. Chúng tôi tổ chức buổi ra mắt sách và nghĩ rằng việc ra mắt này thì bán sách chỉ là phụ thôi. Trung tâm Văn Hóa Đông Tây họ nghĩ rằng cuộc ra mắt sách của Nguyễn Trọng Tạo thì sẽ tập trung lại những Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo. Source Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo. Source người yêu thích thơ Nguyễn Trọng Tạo và sẽ có một cuộc vui. Họ sẽ làm cả ngày trong 12 tiếng đồng hồ, từ 9 giờ sáng Chúa Nhật ngày 13 tháng 11 cho tới 21 khi chương trình này đến với quý vị chúng ta còn một đêm nữa thì buổi ra mắt sách của nhà thơ tại Trung tâm Văn Hóa Đông Tây sẽ bắt đầu. Đối với nhiều người ở xa thì đây quả thật là một điều đáng tiếc vì không có cơ hội gặp gỡ nhà thơ, nhạc sĩ mà họ yêu mến. Thưa anh Nguyễn Trọng Tạo anh có thể trình bày vài bài thơ trong tác phẩm “Nguyễn Trọng Tạo Thơ và Trường ca” hay không?- Trong quyển sách ấy có 296 bài thơ và hai trường ca. Tôi chưa bao giờ nghĩ là mình sẽ in một tập thơ dày năm sáu trăm trang như vậy. Tôi cũng muốn đọc để gửi đến thính giả một số bài thơ thí dụ như bài “Tản mạn đời tôi sống”. Đây là bài thơ mang một dấu ấn rất mạnh ở Việt Nam đầu những năm 80. Bài thơ này tôi viết năm 81, trước đổi mới. Bài thơ đã gây một cú sốc trong thi đàn Việt Nam trong cái thời đó. Một cú sốc trong thi đàn Việt Nam Cú sốc này đã làm cho tôi phải rời khỏi Hà Nội và đi về miền Trung đến 15 năm, cũng ngang thời gian lưu lạc của Thúy Kiều. Sau đó tôi mới về Hà Nội nhưng rất may mắn, đến năm 86 trong thời kỳ đổi mới thì bài thơ được đánh giá lại, được in và đọc trên các đài phát thanh. Cái thời ấy tôi muốn nói sự thật của một thời đoạn trên đất nước Việt Nam…Tản mạn thời tôi sống Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùaNhư thời đã đi qua, như thời rồi sẽ đếnNhưng cái thời tôi sống hẳn khác xưaTrong bài hát thêm bom rơi, và súng Anh yêu em anh phải đi ra trậnVợ yêu chồng biết chờ đợi, nuôi conĐất yêu người đất nhận làm lá chắnHai mươi năm không nguôi lửa chiến trường Hai mươi năm không ngày nào vắng người chết đạnKhăn tang bay người sống trắng mái đầuĐâu cũng gặp những nghĩa trang liệt sĩChiến tranh chấm dứt rồi mà nào dễ tin đâu! 2. Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùaNhưng màu hoa thời tôi thì có khácXe đến công trường bay mù bụi cátMàu hoa thường lấm bụi suốt mùa khô Lúa ngậm đòng lụt bão đến xô bồNhà đang dựng thiếu xi măng, thiếu gạchBao đám cưới chưa có phòng hạnh phúcMây ngổn ngang lam lũ những dáng người Anh nhớ em nhớ về phía cuối trờiNơi đất mới khai hoang chân em dầm trong đấtEm nhớ anh nhớ về nơi bóng giặcCứ rập rình quanh cột mốc đêm đêm Gió thầm thào như chẳng thể nguôi yênGạo thịt cửa hàng nhiều khi không đủ bánCon phe sục khắp ga tàu bến cảngGiá chợ đen ngoảnh mặt với đồng lương… Có bao người ước cuộc sống bình thườngNhư một thuở xa xôi mình đã cóThuở miếng ăn không phải bàn đến nữaThuở chiến tranh chưa chạm ngõ nhà mình Có bao người bạc bẽo với quê hươngThả số phận bập bềnh vào biển tốiThời tôi sống có bao nhiêu câu hỏiCâu trả lời thật không dễ dàng chi!... 3. Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùaChỉ vết thương rồi thời gian làm sẹoVầng trăng mọc vào thơ mỗi ngày dường đổi mớiNgười lo toan vầng trăng chẳng yên tròn Tôi sống thời không thể đứng quay lưngBao biến động dễ đâu nhìn thấy đượcBờ thẳng hơn những cánh đồng hợp tácĐê sông Hồng sau màu lũ thêm cao Tàu ngoài khơi vừa phát hiện mỏ dầuĐập thủy điện sông Đà đang xây móngTờ báo đẫm mồ hôi bỗng sáng dòng tin ngắn“Nhà máy giấy Bãi Bằng vừa ra mẻ đầu tiên” Thời đã qua sẽ chẳng khỏi ngạc nhiênNếu trở lại bây giờ vẫn quần nâu dạo phốThời tôi sống cả đến bầy em nhỏDiện quần bò nhảy theo điệu nhạc vui… Đài thêm nhiều những bài hát yêu nhauNhững điệu múa ba-lê hồng hào thêm sân khấuCái mới đến ngỡ ngàng rồi nhập cuộcBáo bớt trang báo thêm chút thơ tình Thơ chưa hay thì thơ nói thật lòngAi giả dối rồi biết mình lầm lỗiThời tôi sống có bao nhiêu câu hỏiCâu trả lời thật không dễ dàng chi!... 4. Khi đang đắm yêu nào tin được bao giờRồi một ngày người yêu ta đổi dạRồi một ngày thần tượng ta tan vỡBạn bè thân thọc súng ở bên sườn Sau cái bắt tay xòe một lưỡi dao gămKẻ tình nguyện giữ nhà muốn chiếm nhà ta ởTấm ảnh Mao treo lẫn màu cờ đỏTay ta treo đâu nghĩ có một lần!... Như con chiên sùng đạo chợt bàng hoàngNhận ra Chúa chỉ ghép bằng đất đáThời tôi sống thêm một lần súng nổTrái tim đau rỏ máu dọc biên thùy… 5. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo ký sách tặng GS Sử học Bùi Thiết . Source Source Rồi thời gian qua đi rồi tuổi trẻ qua điAi sau tôi ở vào thời sắp đếnThời không còn khổ đau thời không còn nghèo túngĐọc thơ tôi xin bạn chớ chau mày. Bạn hãy quên đi vất vả những hàng ngàyBao lo lắng đời thường từng làm tuổi xanh ta bạc tócChỉ Hy vọng và Niềm tin giúp ta thêm sức lựcCâu thơ này xin bạn nhớ giùm cho Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa!... -Đấy là bài “Tản mạn thời tôi sống”. Sau đó hai năm tôi có viết một bài để trả lời một câu hỏi thôi. Năm 81 tôi viết “Câu trả lời thật không dễ dàng chi” đến năm 92 tôi viết “Có câu trả lời biến thành câu hỏi”.Tôi tiếp tục một câu hỏi lớn đối với cuộc sống của chúng ta qua bài “Đồng dao cho người lớn”. Đây là câu chuyện của người lớn nhưng mà dùng để mở cái nhịp đồng dao cho trẻ con Đồng dao cho người lớn có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôicó con người sống mà như qua đờicó câu trả lời biến thành câu hỏicó kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cướicó cha có mẹ có trẻ mồ côicó ông trăng tròn nào phải mâm xôicó cả đất trời mà không nhà ởcó vui nho nhỏ có buồn mênh môngmà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏmà đời vẫn say mà hồn vẫn giócó thương có nhớ có khóc có cườicó cái chớp mắt đã nghìn năm nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo mới đây anh đã phổ biến một bài thơ đã được anh sáng tác vào năm 1980 viết vê những người lính đang trú đóng trên đảo Vạn Hoa. Bài thơ này gợi lại nhiều hình ảnh khiến người ta có cảm giác rằng những người lính trẻ này có vẻ như bị bỏ quên trong trí nhớ của nhiều người, anh có những chia sẻ gì về bài thơ này thưa anh?-Vâng tôi đã ra đảo và đã viết bài thơ “Anh đã yêu như vậy”. Người lính trên đảo vất vả lắm, nước ngọt rất khó khăn, rau thì rất hiếm. Tôi nghĩ rất lạ đời, kinh ngạc và cả kính trọng những người sống một cuộc sống quá khó khăn quá vất vả như thế mà họ vẫn yêu hòn đảo như đã ra đảo và đã viết bài thơ “Anh đã yêu như vậy”. Người lính trên đảo vất vả lắm, nước ngọt rất khó khăn, rau thì rất hiếm. Tôi nghĩ rất lạ đời, kinh ngạc và cả kính trọng những người sống một cuộc sống quá khó khăn quá vất vả như thế mà họ vẫn yêu hòn đảo như vậy Anh đã yêu như vậy Chẳng lẽ anh yêu đất cằn và đá cỗinắng cháy da và rét buốt xươnggió xé rách áo quầnmưa ném nghiêng mũ cốichẳng lẽ anh yêu sóng biển gào dữ dộiát cả tiếng em từ phía đất liền?Công sự anh đào xuyên ngày, xuyên đêmđào vào đá lưỡi xẻng thay mấy bậnnhững cánh tay kéo pháo hai ba tấnlên điểm cao, dốc dựng lệch trời xanhchẳng lẽ anh yêu đá cào tướp bàn chândày cao cổ rách rồi, tay con trai lại vá?Sống giữa biển mà lắm khi thèm cáluống rau trồng trong lưới ngăn chimnước biển nhiều mà chẳng thể nấu cơmphuy nước ngọt để dành khi giặc giãchẳng lẽ anh yêu đêm liên hoan văn nghệcó chàng trai sắm vai gái diễn chèo?Chẳng lẽ anh yêu những đêm ngủ hầm kèobáo đến chậm hai tuần vẫn gọi là “báo mới”lá thư tình đọc chung cùng đồng độilúc nghe đài là lúc gặp quê hươngchẳng lẽ anh yêu những ngày tháng thẳng căngđêm bật dậy mấy lần báo động?Nhưng em ơi, giữa muôn trùng biển sónganh đã yêu như vậy ngày ngàynhư yêu em đắm sayyêu giấc ngủ hằng mơ về bờ cátbởi anh biếtnếu lòng mình đổi khácgiặc sẽ tràn qua đảo của mình đây!… Quý vị vừa theo dõi buổi mạn đàm với nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo về tác phẩm “Nguyễn Trọng Tạo Thơ và Trường ca”. Hy vọng quý vị có thêm thông tin về tác phẩm này để làm giàu thêm tủ sách gia đình hay trong trí nhớ về một tác giả nhiều tài năng trên cả hai lĩnh vực âm nhạc và thơ ca.
nguyễn trọng thơ là ai